...Kiến thức của bạn - Niềm vui chung của chúng tôi - Nụ cười của bệnh nhân
Hotline: 0908247755

NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ ĐỘT QUỴ

Ths.Bs. Trần Văn Tú

 

 

Chẩn đoán

  • Chẩn đoán đột quỵ bao gồm khám tổng quát và thần kinh, tiền sử nội khoa của bệnh nhân, các xét nghiệm máu (đo nồng độ glucose máu, thời gian máu đông, men tim, và các yếu tố khác), và các khảo sát hình ảnh.
  • Nhiều tiến trình giống nhau được dùng để chẩn đoán đột quỵ và để đánh giá nguy cơ đột quỵ lớn trong tương lai ở những bệnh nhân có cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua.
  • Ở bệnh nhân có đột quỵ lớn, bước đầu tiên là xác định nhanh chóng là đột quỵ thiếu máu não cấp hay đột quỵ xuất huyết.
  • Thuốc tan huyết khối có thể cứu sống bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp, tuy nhiên hầu hết chỉ tác dụng trong 3-4 giờ đầu tiên.
  • Tuy nhiên, nếu đột quỵ do xuất huyết, thuốc tan huyết khối sẽ làm tăng chảy máu và có thể gây tử vong.

 

Các khảo sát hình ảnh

Siêu âm động mạch cảnh

  • Các tiến trình siêu âm động mạch cảnh như duplex động mạch cảnh là công cụ có giá trị để đo độ rộng của động mạch cảnh và dòng máu chảy qua nó như thế nào.
  • Có thể giúp xác định mức độ mảng xơ vữa và độ hẹp và sự tắc nghẽn động mạch cảnh.

Chụp cắt lớp điện toán và cộng hưởng từ

  • Có thể giúp phân biệt đột quỵ thiếu máu não cấp và đột quỵ xuất huyết.
  • Chụp cắt lớp điện toán (CT) và cộng hưởng từ (MRI) có thể giúp chỉ ra những dấu hiệu chảy máu và có thể cho biết được là đột quỵ mới hay có trước đây.
  • MRI có thể tốt hơn CT trong việc phân biệt giữa đột quỵ xuất huyết và đột quỵ thiếu máu trong vài giờ đầu sau khi triệu chứng bắt đầu.
  • MRI cũng là kỹ thuật hình ảnh tốt hơn để đánh giá bệnh nhân TIA.
  • Tuy nhiên MRI cần nhiều thời gian để thực hiện hơn CT và ít phổ biến hơn.
  • Vì những lý do này, CT có thể được dùng thay MRI.

Chụp mạch máu não

  • Là một thủ thuật xâm lấn có thể được dùng cho bệnh nhân có TIA cần phẫu thuật.
  • Có thể phát hiện phình mạch và theo dõi điều trị tan huyết khối.
  • Cần phải đặt catheter vào động mạch đến phần đáy động mạch cảnh.
  • Sau đó thuốc cản quang được bơm vào động mạch, và chụp X quang để xác định vị trí mức độ mạch máu bị hẹp.

Chụp cộng hưởng từ mạch máu (MRa) và chụp CT mạch máu (CTa)

  • Là kỹ thuật không xâm lấn để đánh giá động mạch cảnh và các động mạch trong não.
  • Trong nhiều tình huống, các kỹ thuật này có thể dùng thay cho chụp mạch máu não.

Đánh giá tim

Điện tâm đồ (ECG)

  • Dùng để đánh giá tim ở bất kỳ bệnh nhân đột quỵ hay nghi ngờ đột quỵ.
  • Ghi nhận hoạt động điện của cơ tim.

Siêu âm

  • Để đánh giá van tim và buồng tim
  • Thường có lợi cho những bệnh nhân đột quỵ để xác định huyết khối hay các yếu tố nguy cơ của huyết khối có thể di chuyển đến não và gây ra đột quỵ.

Thang điểm ABCD2

  • Khi có TIA thì tăng nguy cơ đột quỵ lớn trong những ngày và những tuần sau đó.
  • Thang điểm ABCD2  để giúp bác sĩ tiên lượng ngắn hạn đột quỵ theo sau một TIA.
  • Thang điểm ABCD2 được cho điểm dựa trên những yếu tố khác nhau, bao gồm:
  • Tuổi (trên 60 tuổi)
  • Huyết áp ( ≥ 140/90 mmHg)
  • Các đặc điểm lâm sàng (yếu liệt ở một bên cơ thể, mất ngôn ngữ không có yếu liệt)
  • Thời gia của triệu chứng TIA (ít nhất là 60 phút)
  • Đái thái đường
  • Dựa vào số điểm, bác sĩ có thể xác định bệnh nhân ở nhóm nguy cơ thấp, vừa, hay cao sẽ có đột quỵ trong vòng 2 ngày sau khi bị TIA.

Điều trị

  • Cho đến gần đây, điều trị đột quỵ đã giới hạn vào hỗ trợ sự sống lúc đột quỵ và hồi phục chức năng sau đó.
  • Việc điều trị có thể có lợi nếu nhập viện sớm  sau khi khởi phát đột quỵ.
  • Đây là trường hợp nguy kịch cần phải nhập viện và chẩn đoán sớm.
  • Điều trị sớm rất quan trọng trong việc giảm tổn thương từ đột quỵ
  • Cơ hội sống và hồi phục tốt hơn nếu được điều trị ở trung tâm đột quỵ chuyên sâu.

Điều trị đột quỵ thiếu máu não cấp

  • Điều trị ban đầu của đột quỵ nhằm mục đích tan huyết khối
  • Các bệnh nhân đến khoa cấp cứu có những dấu hiệu của đột quỵ thiếu máu não cấp thường được cho aspirin để giúp loãng máu.
  • Aspirin có thể làm nặng thêm ở bệnh nhân đột quỵ xuất huyết, vì thế không nên dùng aspirin ở nhà cho đến khi xác định được loại đột quỵ.
  • Nếu bệnh nhân đến bệnh viện trong vòng 3-4 giờ từ lúc khởi phát đột quỵ (khi triệu chứng đầu tiên xuất hiện), họ có thể được đưa vào nhóm điều trị thuốc tan huyết khối.
  • Thuốc tan huyết khối được dùng để làm vỡ cục máu đông
  • Thuốc tan huyết khối chuẩn là t-PAs (tissue plasminogen activator).
  • Các thuốc gồm có alteplase (Activase) và reteplase (Retavase).
  • Sau đây là những bước quan trọng trước khi dùng thuốc tan huyết khối:
  • Trước khi cho thuốc tan huyết khối nên chụp CTscan để loại trừ xuất huyết não.
  • Nếu đột quỵ là thiếu máu não cấp, CTscan cũng có thể gợi ý nếu tổn thương rất rộng ảnh hưởng đến việc dùng thuốc tan huyết khối.
  • Thuốc tan huyết khối thường được cho trong vòng 3-4 giờ khi bị đột quỵ.
  • Tốt nhất là bệnh nhân được điều trị trong vòng 90 phút khi bị đột quỵ.
  • Theo hướng dẫn của Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ và Hiệp Hội Đột Quỵ Hoa Kỳ, một vài bệnh nhân có thể có lợi từ việc điều trị thuốc tan huyết khối trong vòng 4.5 giờ sau khi triệu chứng đột quỵ bắt đầu.
  • Những bệnh nhân này bao gồm những người nhỏ hơn 80 tuổi, có đột quỵ ít trầm trọng, không có tiền sử đột quỵ hay đái tháo đường, và không dùng thuốc kháng đông.
  • Những bệnh nhân không có những tiêu chuẩn này không nên điều trị với thuốc tan huyết khối sau thời gian của sổ 3 giờ.
  • Thuốc tan huyết khối làm tăng nguy cơ xuất huyết, vì thế nó có thể không thích hợp cho những bệnh nhân có những yếu tố nguy cơ xuất huyết.

Điều trị đột quỵ xuất huyết

  • Phụ thuộc vào xuất huyết khoang dưới nhện hay xuất huyết trong nhu mô não.
  • Có thể điều trị bằng thuốc và phẫu thuật.
  • Thuốc
  • Thuốc rất đa dạng tuỳ thuộc vào nguyên nhân gây xuất huyết.
  • Nếu huyết áp cao là nguyên nhân dùng thuốc hạ huyết áp.
  • Nếu thuốc kháng đông, như warfarin hay hepamin là nguyên nhân, phải ngưng thuốc ngay và có thể cho các thuốc để làm tăng đông.
  • Các thuốc khác như ức chế kênh canxi, nimodipine (Nimotop), có thể giúp giảm nguy cơ đột quỵ thiếu máu não cấp do biến chứng co thắt mạch sau đột quỵ xuất huyết.
  • Phẫu thuật
  • Được thực hiện cho phình mạch hay dị dạng động tĩnh mạch gây xuất huyết.
  • Có thể được thực hiện qua phẫu thuật xương sọ, bằng cách mở xương sọ.
  • Các kỹ thuật ít xâm lấn hơn có thể được làm là đưa catheter vào.
  • Catheter được hướng dẫn đi trong lòng động mạch bởi đầu có cản quang và rồi đến những mạch máu nhỏ nơi có phình mạch.
  • Sau đó coil được đưa vào tạo bóng lưới. Huyết khối sẽ hình thành xung quanh coil này để phòng ngừa phình mạch vỡ và xuất huyết.
  • Nếu phình mạch đã vỡ rồi, có thể dùng một cái kẹp để kẹp tại vị trí đó để phòng ngừa chảy máu vào não thêm nữa.

Điều trị các biến chứng của đột quỵ

  • Trong những ngày sau đột quỵ, bệnh nhân có nguy cơ nhiều biến chứng.
  • Thực hiện các bước sau để phòng ngừa biến chứng
  • Duy trì cung cấp oxy đầy đủ
  • Duy trì nồng độ oxy rất quan trọng
  • Trong một số trường hợp có thể thở máy
  • Bổ sung oxy cũng cần thiết cho những bệnh nhân có nồng độ oxy máu thấp
  • Điều trị sốt
  • Sốt nên được theo dõi và điều trị tích cực bằng thuốc và nếu cần thiết dùng mền làm lạnh khi có những tiên lượng kết cục xấu.
  • Đánh giá sự nuốt
  • Các bệnh nhân nên được đánh giá chức năng nuốt trước khi cho bất cứ thức ăn, dịch, hay thuốc qua đường miệng.
  • Nếu bệnh nhân không thể nuốt tốt họ có nguy cơ bị nghẹn.
  • Những bệnh nhân không thể nuốt đòi hỏi phải nuôi ăn qua đường tĩnh mạch hay đặt ống nuôi ăn qua đường mũi.
  • Duy trì điện giải
  • Duy trì cân bằng điện giải là rất quan trọng.
  • Kiểm soát huyết áp (HA)
  • Điều trị huyết áp rất quan trọng tuy nhiên phức tạp.
  • Huyết áp thường suy giảm tự phát trong 24 giờ đầu sau đột quỵ.
  • Những BN vẫn có HA cao nên được điều trị cẩn thận với các thuốc hạ HA.
  • Theo dõi tăng áp lực nội sọ
  • Là một biến chứng thường gặp của đột quỵ xuất huyết.
  • Tăng ALNS cũng có thể xảy ra vài ngày sau đột quỵ thiếu máu não.
  • Triệu chứng sớm như ngủ gà, lú lẫn, lơ mơ, yếu liệt, và đau đầu. Các thuốc như mannitol có thể dùng để làm giảm áp lực hay nguy cơ của nó.
  • Nằm tư thế đầu cao có thể giảm áp lực nội sọ, tuy nhiên có thể làm huyết áp thấp hơn và gây nguy hiểm cho nhồi máu lớn.
  • Theo dõi tim
  • Các BN nên được theo dõi để kiểm tra rung nhĩ và rối loạn nhịp khác.
  • Những bệnh nhân có nguy cơ cao nhồi máu cơ tim sau đột quỵ.
  • Kiểm soát nồng độ đường huyết
  • Nồng độ đường huyết cao có thể gặp sau đột quỵ nặng và có thể là một dấu hiệu của rối loạn nguy hiểm.
  • Những bệnh nhân có nồng độ đường huyết cao nên điều trị bằng insulin.
  • Theo dõi chức năng đông máu
  • Các xét nghiệm về chức năng đông máu để phát hiện rối loạn đông máu.
  • Kiểm tra huyết khối tĩnh mạch sâu
  • Là một biến chứng nguy hiểm sau đột quỵ bởi vì nguy cơ bong huyết khối và di chuyển đến não hay tim.
  • Huyết khối tĩnh mạch sâu cũng có thể gây ra thuyên tắc phổi nếu cục huyết khối di chuyển đến phổi.
  • Nếu cần thiết, có thể dùng thuốc kháng đông như heparin, tuy nhiên làm tăng nguy cơ xuất huyết.
  • Những bệnh nhân bị đột quỵ cũng có nguy cơ thuyên tắc phổi.
  • Phòng ngừa nhiễm trùng
  • Bệnh nhân đột quỵ tăng nguy cơ bị viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu, và các nhiễm trùng lan rộng khác.

 

Phòng ngừa

  • Bệnh nhân có TIA hay đột quỵ lần đầu sẽ có nguy cơ cao bi đột quỵ lần khác.
  • Phòng ngừa thứ phát rất quan trọng để giảm nguy cơ này.
  • Thay đổi lối sống
  • Bỏ thuốc lá
  • Thuốc lá là một yếu tố nguy cơ lớn của đột quỵ.
  • Bệnh nhân nên tránh phơi nhiễm với khói thuốc lá.
  • Chế độ ăn có lợi cho sức khoẻ
  • Thay đổi chế độ ăn để có nhiều rau và trái cây, kali, và ít mỡ bảo hoà.
  • Tất cả mọi người nên giới hạn muối, ăn dưới 1.500 mg/ngày.
  • Chế độ ăn rất quan trọng cho người trên 50 tuổi, tất cả người Mỹ gốc Phi, và tất cả mọi người có tăng huyết áp.
  • Có nhiều chế độ ăn kiêng, như chế độ DAST, và chế độ ăn the Mediterranean, có thể là lựa chọn tốt cho giảm nguy cơ đột quỵ.
  • Tập luyện
  • Giúp giảm nguy cơ xơ vữa động mạch, có thể giúp giảm nguy cơ đột quỵ.
  • Thời gian ít nhất 30 phút mỗi ngày và tất cả các ngày trong tuần.
  • Duy trì trọng lượng có lợi cho sức khoẻ
  • Những BN thừa cân nên giảm cân bằng chế độ ăn kiêng và tập luyện đều độ.
  • Hạn chế uống rượu
  • Dùng rượu nặng và nhiều làm tăng nguy cơ đột quỵ thiếu máu và xuất huyết.
  • Hạn chế rượu không quá một ly mỗi ngày ở nữ và hai ly mỗi ngày ở nam.

Các thuốc chống tiểu cầu để phòng ngừa đột quỵ

  • Bác sĩ của bạn có thể đề nghị dùng aspirin hay, nếu bạn không thể dùng aspirin, dùng những thuốc kháng đông kháng như là clopidogrel (Plavix) để phòng ngừa huyết khối được hình thành trong động mạch hay tim của bạn.
  • Những thuốc này được gọi là thuốc chống tiểu cầu.
  • Những thuốc này làm cho tiểu cầu bớt kết dính hơn và vì thế ít hình thành huyết khối.
  • Bạn không nên dùng aspirin nếu không có chỉ định từ bác sĩ của bạn.

Phòng ngừa tiên phát (phòng ngừa đột quỵ đầu tiên)

  • Phòng ngừa tiên phát là khi thuốc chống tiểu cầu được dùng trước khi một đột quỵ hay TIA xảy ra.
  • Trước khi quyết định một người nào đó nên dùng aspirin để phòng ngừa đột quỵ được gây ra bởi tắc nghẽn một đột mạch (đột quỵ thiếu máu), bác sĩ của bạn phải xem xét bạn có tăng nguy cơ đột quỵ do xuất huyết trong não, cũng như xuất huyết ở chỗ khác trong cơ thể.
  • Ở nam và nữ bất kỳ tuổi nào có nguy cơ đột quỵ thấp, không có chứng cứ dùng aspirin sẽ phòng ngừa đột quỵ.
  • Nữ từ 55-79 tuổi nên dùng aspirin liều thấp (81mg mỗi ngày) nếu họ có nguy cơ đột quỵ não hay cơn đau tim. Những yếu tố nguy cơ này bao gồm tăng huyết áp, đái tháo đường, dùng thuốc lá, tiền sử bệnh tim mạch, rung nhĩ, và phì đại thất trái.
  • Những người phụ nữ nhỏ hơn 55 tuổi không nên dùng aspirin chỉ đơn thuần cho phòng ngừa tiên phát đột quỵ.
  • Nam từ 45-79 tuổi nên dùng aspirin nếu họ tăng nguy cơ bị cơn đau tim.
  • Aspirin không được khuyến cáo ở nam chỉ đơn thuần cho phòng ngừa tiên phát đột quỵ.
  • Các yếu tố nguy cơn cho bệnh động mạch vành và cơn đau tim là tăng huyết áp, đái tháo đường, dùng thuốc lá, tiền sử bệnh tim mạch, rung nhĩ, và phì đại thất trái.
  • Nam nhỏ hơn 45 tuổi không nên dùng aspirin cho phòng ngừa tiên phát.
  • Ở nữ và nam trên 80 tuổi không có lợi ích rõ ràng của việc dùng aspirin cho phòng ngừa đột quỵ so với sự tăng nguy cơ xuất huyết đường tiêu hoá hay não.
  • Dùng aspirin mỗi ngày có thể gây loét và xuất huyết tiêu hoá.

Phòng ngừa thứ phát (để phòng ngừa đột quỵ não khác sau khi đã bị đột quỵ)

  • Sau một đột quỵ thiếu máu não hay TIA, dùng aspirin riêng lẽ hay aspirin kết hợp thuốc chống tiểu cầu dipyridamole (Persantine, Aggrenox) cho hai lần mỗi được khuyến cáo để phòng ngừa đột quỵ khác.
  • Clopidogrel có thể được dùng thay thế aspirin ở những bệnh nhân có hẹp động mạch vành hay có đặt stent.
  • Sự phối hợp aspirin và clopidogrel không có lợi ích hơn và làm tăng nguy cơ xuất huyết.

Các thuốc kháng đông để phòng ngừa đột quỵ

  • Các thuốc kháng đông được dùng để giúp phòng ngừa huyết khối và đột quỵ.
  • Đây là thuốc tốt nhất để phòng ngừa đột quỵ ở những bệnh nhân có rung nhĩ.
  • Warfarin
  • Warfarin (Coumadin) là thuốc kháng đông chính dùng để phòng ngừa đột quỵ ở bệnh nhân nguy cơ cao có rung nhĩ.
  • Giống như tất cả các thuốc kháng đông khác, warfarin có nguy cơ gây xuất huyết, tuy nhiên hầu hết các bệnh nhân có lợi ích nhiều hơn nguy cơ. Nguy cơ xuất huyết cao nhất khi khởi đầu điều trị warfarin liều cao, và điều trị kéo dài.
  • Những bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết thường là người già và có tiền sử xuất huyết dạ dày và tăng huyết áp.
  • Theo dõi chức năng đông máu bằng cách thường xuyên kiểm tra thời gian prothrombin (PT) và INR.
  • Những bệnh nhân uống warfarin cần theo dõi cẩn thận số lượng Vitamin K được hấp thụ từ thức ăn qua chế độ ăn.
  • Quá nhiều Vitamin K làm giảm tác dụng của warfarin.
  • Thức ăn và thức uống giàu Vitamin K bao gồm: xúp cải, rau bina, cải lá xanh, mù tạt xanh, củ cải đường, rau mùi tây, và trà xanh.
  • Nước quất ép và rượu có thể làm tăng tác dụng của warfarin và xuất huyết.
  • Những bệnh nhân có rung nhĩ thường được xem xét điều trị warfarin khi có một hay nhiều hơn các đặc tính sau đây:
  • Tiền sử huyết khối đến phổi, não, hay TIA
  • Có huyết khối ở một buồng tim
  • Bệnh van tim
  • Đái tháo đường, vời bệnh nhân trên 65 tuổi
  • Lớn tâm nhĩ trái
  • Bệnh động mạch vành
  • Suy tim
  • Lớn hơn 75 tuổi
  • Những thuốc thay thế warfarin
  • Trong những năm gần đây, vài thuốc kháng đông mới đã được đồng thuận các thuốc thay thế warfarin để phòng ngừa đột quỵ và huyết khối ở bệnh nhân có rung nhĩ.
  • Năm 2010, FDA đã chấp thuận dabigatran (Pradaxa) cho những bệnh nhân rung nhĩ không có bệnh van tim.
  • Theo những guideline gần đây của các tổ chức tim mạch hàng đầu, dabigatran là lựa chọn tốt cho những bệnh nhân không có vấn đề van tim, suy thận hay bệnh gan.
  • Không giống như warfarin, những bệnh nhân dùng dabigatran không cần phài kiểm tra thường xuyên chức năng đông máu.
  • Tuy nhiên, dabigatran cần phải uống 2 lần mỗi ngày (warfarin uống một lần mỗi ngày) và có thể gây ra tác dụng phụ nhiều hơn warfarin.
  • Những tác dụng phụ không xuất huyết thay đổi từ đầy bụng đến đột quỵ tim. Dabigatran đắt tiền hơn warfarin.
  • Các bác sĩ hiện nay khuyến cáo những bệnh nhân đang đáp ứng tốt với warfarin có thể không có lợi nếu chuyển sang dabigatran.
  • Có những báo cáo dabigatran có thể tăng nguy cơ xuất huyết, tuy nhiên tại thời điểm hiện tại FDA xét thấy lợi ích mang lại nhiều hơn nguy cơ.
  • Năm 2011, FDA đã chấp thuận Rivaroxaban (Xarello) cho điều trị phòng ngừa đột quỵ ở những bệnh nhân rung nhĩ không có bệnh van tim.
  • Thuốc kháng đông thế hệ thứ ba là apixaban (Eliquis) cũng được FDA chấp thuận vào ngày 21-8-2014.

Kiểm soát đái tháo đường

  • Những bệnh nhân đái tháo đường mục tiêu nên giữ nồng độ gluocose máu dưới 110 mg/dl và HbA1C khoảng 7%.
  • Mục tiêu huyết áp cho những bệnh nhân có đái tháo đường nên bằng hay dưới 130/80 mm Hg.

Kiểm soát huyết áp

  • Hạ huyết áp là điều trị chính trong phòng ngừa đột quỵ.
  • Ở bệnh nhân khoẻ mạnh có tăng huyết áp mục tiêu nên giữ huyết áp dưới 140/90 mm Hg.
  • Những bệnh nhân có đái tháo đường, bệnh thận mạn, hay xơ vữa động mạch mục tiêu huyết áp nên dưới 130/80 mm Hg.
  • Điều trị thuốc được khuyến có cho những bệnh nhân có tăng huyết áp mà không thể kiểm soát huyết áp bằng chế độ ăn và các thay đổi lối sống khác.
  • Có nhiều dạng thuốc được dùng để kiểm soát huyết áp, bao gồm thuốc lợi tiểu, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể angiotensin, ức chế beta, và ức chế kênh canxi.

Làm giảm LDL Clolesterol

  • Hiệp hội Tim Mạch Hoa kỳ khuyến cáo bệnh nhân có đột quỵ thiếu máu não cấp hay TIA nên dùng thuốc statin để làm giảm nồng độ cholesterol.
  • Mục tiêu của hầu hết bệnh nhân là LDL < 100 mg/dl. Những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ mục tiêu của nồng độ LDL dưới 70 mg/dl.
  • Thuốc statin bao gồm Lovastatin (Mevacor), Pravastatin (Pravachol), Simvastatin (Zocor), Fluvastatin (Lescol), Atorvastatin (Lipitor), Rosuvastatin (Crestor), và Pitavastatin (Livalo).

Phẫu thuật

  • Phẫu thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh
  • Cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh là một tiến trình phẫu thuật nhằm làm sạch các mảng xơ vữa và làm lưu thông động mạch cảnh bị hẹp.
  • Được khuyến cáo để phòng ngừa đột quỵ thiếu máu não cấp ở những bệnh nhân có triệu chứng hẹp động mạch cảnh trên 70%.
  • Những người động mạch cảnh hẹp dưới 50%, thuốc chống tiểu cầu thường được khuyến cáo dùng thay vì phẫu thuật.
  • Những bệnh nhân hẹp vừa (50-69%), quyết định phẫu thuật tuỳ vào từng bệnh.
  • Trong quá trình thực hiện cũng có nguy cơ đột quỵ tim hay não.
  • Bệnh nhân nên được thực hiện ở những trung tâm chuyên sâu có biến chứng dưới 6%.
  • Phẫu thuật này không được khuyến có cho những bệnh nhân có đột quỵ não cấp.
  • Tiến trình phẫu thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh bao gồm:
  • Bệnh nhân thường được vô cảm toàn thân, mặc dù vô cảm tại chỗ thỉnh thoảng được dùng.
  • Phẫu thuật viên cắt mở động mạch cảnh và nạo lấy mảng xơ vữa trên thành động mạch.
  • Động mạch được may lại, và dòng máu được phục hồi.
  • Bệnh nhân thường nằm lại bệnh viện khoảng 1-2 ngày.
  • Bệnh nhân thường có đau nhẹ vùng cổ khoảng 2 tuần, và bệnh nhân nên nẹp có định cổ trong giai đoạn này. Bệnh nhân có thể mất cảm giác tạm thời ở vùng cổ và sẽ hồi phục trong vài tháng.

Nong và đặt stent động mạch cảnh

  • Nong và đặt stent động mạch cảnh có thể được dùng dể thay thế cho phẫu thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh ở một vài bệnh nhân.
  • Nguyên tắc thực hiện cũng giống như các bệnh tim mạch.
  • Một catheter rất nhỏ cản quang được đưa vào một động mạch.
  • Đi qua hệ thống tuần hoàn đến chỗ tắc nghẽn của động mạch cảnh.
  • Bác sĩ làm vỡ huyết khối hoặc đặt một bóng nhỏ chống lại thành mạch máu.
  • Sau khi đặt bóng tạm thời, bác sĩ đặt stent kim loại bên trong mạch máu để giữ mạch máu không hẹp lại.
  • Tiến trình này có thể gây nguy cơ đột quỵ lấp mạch và các biến chứng khác.
  • Tuy nhiên kỹ thuật này được thực hiện cho những bệnh nhân không thể phẫu thuật cắt bỏ nội mạc động mạch, đặc biệt ở những bệnh nhân hẹp nặng (tắc nghẽn trên 70%) và nguy cơ cao khi phẫu thuật.
  • Một vài nghiên cứu gần đây cho thấy đặt stent động mạch cảnh ngoài sọ cũng có thể tốt như phẫu thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh ở nhóm bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao dưới 70 tuổi.
  • Tuy nhiên, những nghiên cứu khác cho thấy đặt stent làm tăng nguy cơ của các tác dụng phụ.

Phục hồi chức năng

  • Hầu hết những bệnh nhân sống sót sau đột quỵ sẽ để lại di chứng.
  • Tuy nhiên những di chứng này có thể cải thiện tốt nếu được phục hồi chứng năng.
  • Theo hiệp hội Đột Quỵ Hoa Kỳ:
  • 10% bệnh nhân sống sót sau đột quỵ hồi phục hoàn toàn
  • 25% hồi phục có suy giảm chức năng ít
  • 40% suy giảm chức năng từ trung bình đến nặng cần phải chăm sóc đặc biệt
  • 10% cần phải chăm sóc điều dưỡng tại nhà hay ở nơi khác lâu dài
  • Phục hồi chức năng càng sớm sau đột quỵ là cơ hội tốt nhất cho sự cải thiện và phục hồi.
  • Điều trị phục hồi chức năng được bắt đầu tại bệnh viện càng sớm khi tình trạng bệnh nhân ổn định.
  • Bắt đầu từ tập vận động như điều dưỡng hay bác sĩ vận lý trị liệu vận động chi bị ảnh hưởng (tập thụ động), và sau đó cho bệnh nhân tập cử động chi (tập chủ động).
  • Bệnh nhân được khuyến khích từ từ ngồi, đứng, và đi lại, và sau đó thực hiện những công việc sống hàng ngày (như tắm, thay đồ, và vệ sinh).
  • Một vài bệnh nhân hồi phục nhanh và có thể hồi phục chức năng trong vài ngày, trong khi những bệnh nhân khác cải thiện chậm trong 6 tháng đầu hay lâu hơn.
  • Sự phục hồi là một tiến trình và sẽ tốt hơn nếu có sự trợ giúp của gia đình và nhân viên phục hồi chức năng.
  • Các chương trình phục hồi chức năng
  • Mỗi lần bệnh nhân xuất viện, phục hồi chức năng tiếp tục tại nhà hay trong chương trình bệnh ngoại trú.
  • Một vài bệnh nhân có thể chuyển đến bệnh viện phục hồi chức năng trước khi về nhà.
  • Những bệnh nhân khác có thể phải chăm sóc lâu dài hay hỗ trợ khả năng làm việc.
  • Trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, ngoài bác sĩ chăm sóc ban đầu hay bác sĩ thần kinh, thêm vào đó là một đội phục hồi chức năng có thể bao gồm:
  • Bác sĩ vật lý tập trung vào việc phục hồi chức năng vật lý và giúp đỡ bệnh nhân cải thiện sức cơ, thăng bằng, và sự phối hợp.
  • Bác sĩ nghề nghiệp sẽ giúp bệnh nhân phục hồi khả năng thực hiện hoạt động sống hàng ngày.
  • Bác sĩ ngôn ngữ lời nói giúp cải thiện các kỹ năng ngôn ngữ
  • Bác sĩ tâm thần giúp về trạng thái cảm xúc và tâ thần cảu bệnh nhân
  • Nhân viên xã hội giúp bệnh nhân và gia đình sắp xếp tài chính và phối hợp với dịch vụ tại nhà.

Những ảnh hưởng của đột quỵ

  • Đột quỵ có thể gây ra tàn tật khác nhau. Các dạng tàn tật tuỳ thuộc vào phần não bị tổn thương.
  • Theo viện Sức Khoẻ Quốc Gia Hoa Kỳ, năm dạng tàn tật chính của đột quỵ là:
  • Liệt hay những vấn đề kiểm soát vận động.
  • Liệt có xu hướng xảy ra ở đối bên với bên não tổn thương.
  • Nếu người tổn thương bên trái não sẽ gây ảnh hưởng bên phải, và ngược lại.
  • Liệt hay yếu nửa người có thể ảnh hưởng đến khả năng đi lại hay cầm nắm đ
  • Sự mất kiểm soát cơ cũng có thể gây ra các vấn đề về nuốt và nói.
  • Bệnh nhân cũng có thể khó phối hợp và giữ thăng bằng.
  • Các rối loại cảm giác bao gồm cả đau
  • Đột quỵ có thể ảnh hưởng đến khả năng cảm giác sờ, đau, nhiệt, hay vị trí.
  • Cảm giác đau, tê, và đau nhói hay kim châm có thể xảy ra ở chi yếu hay liệt.
  • Một vài bệnh nhân có vấn đề thừa nhận tay hay chân bị ảnh hưởng.
  • Những bệnh nhân sau đột quỵ khác có đau mạn tính. Cứng cơ và co thắt cơ thường gặp.
  • Rối loạn cảm giác cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng tiểu và đại tiện.
  • Các vấn đề hiểu và dùng ngôn ngữ (aphasia)
  • Nhiều bệnh nhân sau đột quỵ có suy giảm về ngôn ngữ, làm ảnh hưởng đến khả năng nói, viết, và hiểu ngôn ngữ nói và viết.
  • Những vấn đề về suy nghĩ và trí nhớ
  • Đột quỵ có ảnh hưởng sự chú ý tạm thời và trí nhớ ngắn hạn.
  • Điều này có thể làm suy giảm khả năng lập kế hoạch, học hỏi nhiệm vụ mới, theo sự hướng dẫn hay hiểu nghĩa.
  • Vài bệnh nhân sau đột quỵ không thể nhận ra hay hiểu tình trạng bệnh của họ hay không nhận thức được cảm giác bị ảnh hưởng ở phần cơ thể bị đột quỵ.
  • Rối loạn cảm xúc
  • Vài thay đổi nhân cách và cảm xúc do tổn thương não sau đột quỵ.
  • Trầm cảm rất thường gặp, và nó không chỉ là đáp ứng tâm thần đối với đột quỵ mà còn là một triệu chứng do thay đổi sinh lý ở não.
  • Bệnh nhân có thể khó khăn trong việc kiểm soát cảm soát hay có thể đáp ứng cảm xúc không tương thích với kích thích (khóc, cười, hay mỉm cười với bất cứ nguyên nhân nào).

Tham khảo

Tiếp cận bệnh nhân đột quy


HỎI ĐÁP

VIDEO

                                
                            

Thống Kê Truy Cập