...Kiến thức của bạn - Niềm vui chung của chúng tôi - Nụ cười của bệnh nhân
Hotline: 0908247755

NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ ĐỘT QUỴ

Ths.Bs. Trần Văn Tú

 

 

 

Các dấu hiệu của đột quỵ

Hiệp hội đột quỵ Hoa Kỳ khuyên tất cả mọi người học cách nhận ra những dấu hiệu sau đây của đột quỵ:

  • Đột ngột tê hay yếu của mặt, tay hay chân, đặc biệt ở một nửa cơ thể
  • Đột ngột lú lẫn, rối loạn hay không hiểu lời nói
  • Đột ngột rối loạn thị giác ở một bên hay hai bên
  • Đột ngột rối loạn việc đi đứng, choáng váng, mất thăng bằng hay mất khả năng phối hợp động tác
  • Đột ngột đau đầu nhiều không biết nguyên nhân

 

F.A.S.T

Chữ viết tắt FAST là một cách để nhớ những dấu hiệu của đột quỵ và những điều nên làm nếu bạn nghĩ đột quỵ đã xảy ra (quan trọng nhất là để gọi 115  để hỗ trợ cấp cứu ngay lập tức).

FAST có nghĩa là:

  • (F)ACE (mặt)
  • Yêu cầu bệnh nhân cười
  • Kiểm tra để phát hiện nếu một bên mặt rũ xuống
  • (A)RMS (tay)
  • Yêu cầu bệnh nhân đưa cả hai tay lên
  • Kiểm tra để phát hiện nếu một tay rơi xuống
  • (S)PEECH (nói chuyện)
  • Yêu cầu bệnh nhân lặp lại một câu đơn giản
  • Kiểm tra để phát hiện nếu nói những từ không trôi chảy và kiểm ta sự lặp lại chính xác câu
  • (T)IME (thời gian)
  • Nếu bệnh nhân có bất kỳ triệu chứng nào của các triệu chứng này, thời gian là quan trọng để đưa bệnh nhân đến bệnh bệnh viện nhanh chóng nếu có thể. Gọi cấp cứu 115.

 

Của sổ điều trị tan huyết khối

  • Đây là thời gian quan trọng nên cần đưa bệnh nhân có những triệu chứng đột quỵ đến bệnh viện càng sớm càng tốt.
  • Những bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não có thể được dùng thuốc tan huyết khối nếu họ đến bệnh viện trong vào 3 giờ từ lúc triệu chứng khởi phát.
  • Theo Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ (AHA) và Hiệp hội Đột Quỵ Hoa Kỳ (ASA), của sổ điều trị này có thể mở rộng đến 4.5 giờ cho những bệnh nhân sau:
  • Bệnh nhân dưới 80 tuổi
  • Không có đột quỵ mức độ nặng
  • Không có tiền sử đột quỵ hay đái tháo đường
  • Không dùng thuốc kháng đông đường uống

 

Sự chấp thuận thuốc

  • Năm 2011, FDA đã chấp thuận một thuốc kháng đông mới, Rivaroxaban (Xarelto), để phòng ngừa đột quỵ và huyết khối ở những nhân có rung nhĩ, đây là một nguyên nhân lớn của đột quỵ.
  • Tiếp sau đó, FDA đã chấp thuận Dabigatran (Pradaxa) cho mục đích tương tự. Những thuốc kháng đông mới này có thể là một thuốc thay thế Warfarin cho một vài bệnh nhân. Ngoài ra có thuốc kháng đông thế hệ thứ III là Apixaban (Eliquis) sẽ được chấp nhận.

 

Giới thiệu

  • Đột quỵ là chết tế bào não đột ngột do thiếu oxy
  • Đột quỵ thường được xác định là một trong hai dạng sau:
  • Thiếu máu cục bộ (nguyên nhân do tắc nghẽn một động mạch)
  • Xuất huyết (nguyên nhân do rách thành động mạch gây ra máu chảy vào trong hay xung quanh não)
  • Sau khi đột quỵ sẽ gây ảnh hưởng đến các vùng chức năng có liên quan, và độ nặng phụ thuộc vào vị trí xảy ra và độ rộng của tổn thương.
  • Sự tắc nghẽn dòng máu não
  • Đột quỵ được gây ra bởi hoặc là tắc nghẽn dòng máu đến não (đột quỵ thiếu máu) hay sự vỡ đột ngột của động mạch trong não (đột quỵ xuất huyết).
  • Các tế bào não đòi hỏi cung cấp oxy hằng định để giữ sức khoẻ và chức năng thích hợp. Vì vậy máu cần được cung cấp liên tục đến não qua hai hệ thống động mạch chính:
  • Hệ động mạch cảnh đi lên xuyên qua hai bên trước của cổ.
  • Hệ động mạch thân nền hình thành ở đáy sọ từ các động mạch đốt sống đi lên trên dọc theo cột sống phía sau của cổ
  • Vòng Willis được hợp thành từ vài động mạch ở đáy não.
  • Ở vòng Willis, các động mạch cảnh trong phân nhánh thành những động mạch nhỏ hơn cung cấp máu cho hơn 80% não.

 

  • Sự tắc nghẽn của dòng máu đến não thậm chí một thời gian ngắn có thể gây hại và có thể tổn thương não hay thậm chí chết não.

 

 

Đột quỵ thiếu máu não

  • Đột quỵ thiếu máu não là dạng thường gặp nhất, chiếm gần 90% tất cả các trường hợp đột quỵ. Thiếu máu cục bộ có nghĩa là thiếu oxy trong mô sống. Đột quỵ thiếu máu được gây ra bởi nghẽn mạch máu theo một trong bốn dạng.
  • Đột quỵ lấp mạch huyết khối và xơ vữa động mạch.
  • Đây là dạng đột quỵ  thường xảy ra khi một động mạch cung cấp máu cho não bị tắc nghẽn bởi huyết khối được hình thành từ xơ vữa động mạch (cũng thường gọi là xơ cứng động mạch). Các đột quỵ này thỉnh thoảng được cho là đột quỵ động mạch lớn.
  • Tiến trình dẫn đến đột quỵ huyết khối thì phức tạp và xảy ra theo thời gian:
  • Thành động mạch từ từ dày hơn, cứng hơn, và hẹp hơn cho đến lúc dòng máu giảm, tình trạng này được biết như là sự chít hẹp.
  • Tiến trình này tiếp tục tiếp diễn, dòng máu chậm dần.
  • Thêm vào đó, những biến cố khác góp phần gây ra đột quỵ:
  • Động mạch bị hẹp bởi mảng cholesterol trở nên dễ rách. Trong trường hợp này, huyết khối được thành lập.
  • Huyết khối sau đó vỡ ra và di chuyển đến não, tại đó gây ra tắc nghẽn động mạch  và làm ngưng nguồn cung cấp oxy đến phần não. Đột quỵ xảy ra.

 

Đột quỵ do lấp mạch từ tim và rung nhĩ

  • Một đột quỵ lấp mạch được gây ra bởi một huyết khối bong ra và di chuyển theo mạch máu đến khi bít chặt một động mạch.
  • Đột quỵ lấp mạch từ tim bắt đầu với cục máu đông ở tim và có thể do nhiều tình trạng khác nhau:
  • Trong nhiều trường hợp, sự hình thành huyết khối là kết quả của rối loạn nhịp tim như rung nhĩ.
  • Lấp mạch cũng có thể bắt nguồn từ huyết khối từ thành van tim nhân tạo.
  • Những bệnh nhân có bệnh van tim như là hẹp van hai lá thì tăng nguy cơ tạo huyết khối khi có rung nhĩ kèm theo.
  • Lấp mạch cũng có thể xảy ra sau tổn thương tim hay kèm theo suy tim.
  • Hiếm gặp hơn, lấp mạch được hình thành từ những phần tử chất béo, tế bào ung thư, hay những bóng khí di chuyển theo dòng máu.

 

Đột quỵ do thuyên tắc

  • Xảy ra khi cục huyết khối phát triển trong động mạch trong não
  • Ít gặp hơn đột quỵ do lấp mạch
  • Có xu hướng xảy ra vào ban đêm, và những triệu chứng của nó có thể tiến triển từ từ chậm hơn đột quỵ do lấp mạch (thường xảy ra nhanh và đột ngột).

 

Đột quỵ mạch máu nhỏ (Lacunar)

  • Nhồi máu lỗ khuyết (lacunar) là đột quỵ thiếu máu của những động mạch rất nhỏ gây ra mất thực dung, yếu, và thay đổi cảm xúc
  • Gây ra phần lớn nhồi máu não yên lặng và có thể là hậu quả từ huyết áp cao mạn tính
  • Là phân nhóm của đột quỵ do thuyên tắc
  • Thỉnh thoảng cũng có những dấu hiệu giống như đột quỵ động mạch lớn

 

Nhồi máu yên lặng

  • Nhiều người già có nhồi máu não yên lặng, đột quỵ động mạch nhỏ không gây xuất hiện triệu chứng.
  • Nó được phát hiện tình cờ trên một nửa bệnh nhân lớn tuổi khi khảo sát hình ảnh cho những vấn đề khác đột quỵ.
  • Sự hiện diện của nhồi máu yên lặng sẽ tăng nguy cơ đột quỵ cũng như sa sút trí tuệ trong tương lai.
  • Những người hút thuốc và có tăng huyết áp là nhóm nguy cơ đặc biệt.

 

Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua (TIA)

  • Có triệu chứng giống đột quỵ kéo dài một vài phút và thường dưới 1-2 giờ.
  • Được gây ra bởi lấp mạch do cục huyết khối nhỏ (cục huyết khối được hình thành từ các mảnh calcium và mảng chất béo) gây nghẽn mạch máu đến não.
  • Điển hình xảy ra nhanh và hồi phục nhanh do tắc nghẽn tạm thời nguồn cung cấp máu đến não.
  • TIA không gây tổn thương sau đó, tuy nhiên nó là một dấu hiệu cảnh báo nhồi máu thật sự có thể xảy ra trong tương lai nếu không được phòng ngừa.
  • TIA nên được điều trị như là đột quỵ.
  • Khoảng 10-15% bệnh nhân có TIA sẽ có đột quỵ trong vòng 3 tháng, và một nửa nhóm đột quỵ này xảy ra trong 48 giờ sau TIA.

 

Đột quỵ xuất huyết

  • Khoảng 10% đột quỵ do xuất huyết (chảy máu đột ngột) vào trong hay xung quanh não.
  • Đột quỵ xuất huyết ít gặp hơn đột quỵ thiếu máu não nhưng lại có xu hướng tử vong nhiều hơn.
  • Đột quỵ xuất huyết được phân loại như thế nào và vị trí xảy ra
  • Xuất huyết nhu mô hay trong não.
  • Các đột quỵ này xảy ra do chảy máu vào bên trong nhu mô não.
  • Thường là hậu quả từ tăng huyết áp gây tăng áp lực quá mức lên những thành mạch đã bị tổn thương do xơ vữa động mạch.
  • Những bệnh nhân dùng thuốc kháng đông hay thuốc làm mỏng mạch máu có tăng nguy cơ một ít ở nhóm đột quỵ xuất huyết.
  • Xuất huyết khoang dưới nhện
  • Đây là dạng đột quỵ xảy ra khi mạch máu trên bề mặt của não vỡ, dẫn đến máu chảy vào khoang dưới nhện, một vùng giữa não và xương sọ.
  • Thường do vỡ phình mạch, nang mạch máu gây ra yếu thành động mạch.
  • Dị dạng động tĩnh mạch (AVM) là một thông nối bất thường giữa động mạch và tĩnh mạch.
  • Nếu nó xảy ra trong não và vỡ sẽ gây đột quỵ xuất huyết.

 

Các yếu tố nguy cơ

Đột quỵ mới và tái phát gây ra khoảng 795.000 người Mỹ mỗi năm.

Trung bình mỗi 40 giây có một người tại Mỹ bị đột quỵ.

Trong khi tuổi là yếu tố nguy cơ lớn, hầu hết những người bị đột quỵ có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ.

 

Tuổi

  • Yếu tố nguy cơ đột quỵ của tất cả mọi người là tuổi, đặc biệt những người có huyết áp cao, ít vận động, thừa cân, hút thuốc lá, hay có đái tháo đường.
  • Tuổi lớn cũng có nguy cơ cao sa sút trí tuệ sau đột quỵ. Tuy nhiên cũng xảy ở đột quỵ dưới 65 tuổi.

Giới

  • Trong tất cả các nhóm tuổi ngoại trừ tuổi già, đột quỵ thường xảy ra ở nam hơn nữ.
  • Tuy nhiên đột quỵ gây tử vong ở nữ nhiều hơn nam.
  • Có lẽ một phần do nữ có xu hướng sống thọ hơn nam, và đột quỵ là thường xảy ra ở tuổi già.
  • Phụ nữ chiếm khoảng 6 trong 10 trường hợp tử vong do đột quỵ.
  • Ở phụ nữ trẻ hơn, thuốc ngừa thai và mang thai có thể  tăng nguy cơ đột quỵ.

Chủng tộc và đặc tính sắc tộc

  • Tất cả các dân tộc thiểu số, bao gồm người bản địa châu Mỹ, Hispanics, người Mỹ gốc Phi có nguy cơ đột quỵ và tử vong cao hơn có ý nghĩa so với người da trắng.
  • Sự khác biệt ít về nguy cơ của tất cả các nhóm theo tuổi.
  • Sự khác biệt lớn nhất về nguy cơ xảy ra ở tuổi trẻ.
  • Người Mỹ gốc Phi trẻ tuổi có tỉ lệ đột quỵ gấp hai đến ba lần so với người da trắng cùng địa vị xã hội và gấp bốn lần tỉ lệ tử vong từ cùng một bệnh.
  • Họ cũng đối mặt với nguy cơ cao về tử vong từ bệnh tim mạch.
  • Người Mỹ gốc Phi có tần lưu hành cao về béo phì, đái tháo đường, và tăng huyết áp hơn các nhóm khác.
  • Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy các yếu tố kinh tế xã hội cũng ảnh hưởng những sự khác biệt này.

Tiền sử gia đình

  • Tiền sử gia đình về đột quỵ hay TIA là yếu tố nguy cơ rõ rệt của đột quỵ.

Các yếu tố về lối sống

  • Thuốc lá
  • Những người hút thuốc 1 gói một ngày có hơn gấp hai lần nguy cơ đột quỵ so với người không hút thuốc.
  • Thuốc lá làm tăng nguy cơ cả hai đột quỵ xuất huyết và thiếu máu.
  • Chế độ ăn
  • Chế độ ăn không có lợi cho sức khoẻ (chất béo bão hoà, nhiều muối) có thể góp phần gây bệnh tim mạch, tăng huyết áp, và béo phì, đây là những yếu tố nguy cơ cao cho đột quỵ.
  • Không hoạt động thể lực
  • Thiếu sự tập luyện điều đặn có thể làm tăng nguy cơ béo phì, đái tháo đường, và suy tuần hoàn, làm tăng nguy cơ đột quỵ.
  • Nghiện rượu và ma tuý
  • Nghiện rượu làm tăng nguy cơ đột quỵ
  • Nghiện ma tuý, đặc biệt là cocaine hay methamphetamine, là một yếu tố lớn gây đột quỵ ở người trẻ.
  • Steroids đồng hoá, được dùng cho tăng cường phát triển cơ thể và thể thao cũng tăng nguy cơ đột quỵ.
  • Bệnh tim và van tim
  • Bệnh tim và đột quỵ có quan hệ chặc chẽ với nhau bởi nhiều nguyên nhân.
  • Những người có một bệnh tim hay mạch máu (như là tăng huyết áp, tăng cholesterol, đái thái đường, hay bệnh động mạch ngoại biên) làm tăng nguy cơ tạo ra những tình trạng liên quan khác.
  • Đột quỵ trước đây
  • Tiền căn có đột quỵ hay TIA trước đây làm tăng nguy cơ có ý nghĩa cho đột quỵ sau đó.
  • Những người có ít nhất một cơn TIA nguy cơ đột quỵ gấp 10 lần người không có TIA.
  • Cơn đau tim trước đây
  • Những người có cơn đau tim trước đây thì tăng nguy cơ đột quỵ não.
  • Tăng huyết áp
  • Tăng huyết áp góp phần khoảng 70% đột quỵ
  • Những người có tăng huyết áp thì nguy cơ đột quỵ tăng lên đến 10 lần so với người bình thường, phụ thuộc vào độ nặng của huyết áp và có các yếu tố nguy cơ khác.
  • Tăng huyết áp cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra nhồi máu não thầm lặng, đây là yếu tố tiên lượng nhồi máu lớn.
  • Kiểm soát huyết áp rất quan trọng trong phòng ngừa đột quỵ.
  • Tăng cloesterol có hại
  • Nồng độ cholesterol toàn phần cao tăng nguy cơ xơ vữa động mạch ("làm cứng mạch máu") và bệnh tim.
  • Bệnh tim
  • Bệnh động mạch vành là hậu quả cuối cùng của xơ vữa động mạch, tăng nguy cơ đột quỵ.
  • Các thuốc chống huyết khối được dùng trong bệnh tim mạch để làm tan huyết khối có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ xuất huyết.
  • Rung  nhĩ
  • Rung nhĩ là một yếu tố nguy cơ lớn của đột quỵ, đây là một bệnh rối nhịp tim với nhịp nhĩ rất nhanh và không đều.
  • Máu ứ lại thay vì được bơm ra ngoài ngay tức thì, tăng nguy cơ hình thành huyết khối sau đó bong ra và di chuyển đến não.
  • Khoảng 2-4% bệnh nhân có rung nhĩ không có bất kỳ tiền sử TIA hay đột quỵ sẽ có đột quỵ thiếu máu não cấp trong vòng 1 năm.
  • Nguy cơ sẽ tăng cao nếu bệnh nhân lớn hơn 75 tuổi, có suy tim hay tim to, bệnh động mạch vành, tiền sử bị huyết khối, đái tháo đường, hay bất thường van tim.
  • Các vấn đề cấu trúc tim
  • Bệnh cơ tim giãn nở, bệnh van tim, và các thiếu sót tim bẩm sinh như còn lỗ bầu dục và phình vách nhĩ, đều là những yếu tố nguy cơ của đột quỵ.
  • Bệnh động mạch cảnh và bệnh động mạch ngoại biên
  • Bệnh động mạch cảnh là một yếu tố nguy cơ trầm trọng cho đột quỵ.
  • Xơ vữa động mạch có thể tạo nên ứ động mỡ trong động mạch cảnh của cổ có thể dẫn đến huyết khối gây tắc nghẽn dòng máu và oxy đến não.
  • Những người có bệnh động mạch ngoại biên (là hậu quả của xơ vữa động mạch gây hẹp mạch máu ở chân và tay) thì tăng nguy cơ của bệnh động mạch cảnh và sau đó là đột quỵ.

 

 

  • Đái tháo đường
  • Bệnh tim và đột quỵ là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường.
  • Đái tháo đường gây tăng huyết áp gây tăng huyết áp (tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính của đột quỵ).
  • Nguy cơ cao nhất ở những người mới được chẩn đoán đái tháo đường type II và những bệnh nhân đái tháo đường dưới 55 tuổi.
  • Người Mỹ gốc Phi có đái tháo đường type II có nguy cơ đột quỵ cao hơn ở người trẻ tuổi.
  • Đái tháo đường type II là một yếu tố nguy cơ đặc biệt quan trọng cho đột quỵ thiếu máu não cấp có lẽ do kèm theo các yếu tố nguy cơ như béo phì và tăng huyết áp.
  • Đái tháo đường không thấy làm tăng nguy cơ xuất huyết não.
  • Béo phì và hội chứng chuyển hoá
  • Béo phì có thể tăng nguy cơ cho cả xuất huyết và thiếu máu não cấp độc lập với các yếu tố nguy cơ cùng tồn tại khác với quá cân như đái tháo đường, tăng huyết áp, và tăng cholesterol gây hại.
  • Tăng cân tập trung ở vùng bụng có nguy cơ cao đột quỵ, cũng như bệnh tim mạch.
  • Béo phì đặc biệt nguy hiểm khi nó là một thành phần của hội chứng chuyển hoá.
  • Hội chứng này được chẩn đoán khi có ba trong những điều kiện sau:
  • Mập vòng bụng
  • HDL cholesterol thấp
  • Nồng độ triglyceride cao
  • Huyết áp cao
  • Đề kháng insuline
  • Bởi vì hội chứng chuyển hoá là tình trạng tiền đái tháo đường, thường đi kèm với bệnh tim mạch, những bệnh nhân có hội chứng này thì tăng nguy cơ đột quỵ thậm chí trước khi có bệnh đái tháo đường.

 

Các yếu tố nguy cơ khác

  • Migraine
  • Các nghiên cứu chỉ ra migraine và đau đầu nhiều có thể là một yếu tố nguy cơ đột quỵ cho cả nam và nữ, đặc biệt xảy ra trước 50 tuổi.
  • Khoảng 2-3% đột quỵ thiếu máu não xảy ra ở bệnh nhân có tiền sử đau đầu migraine.
  • Tuy nhiên, ở bệnh nhân dưới 45 tuổi tỉ lệ khoảng 15% cho tất cả đột quỵ (và 30-60% đột quỵ ở phụ nữ trẻ) có kèm với tiền sử migraine, đặc biệt là migraine có tiền triệu.
  • Ở phụ nữ trẻ có migraine, những yếu tố nguy cơ khác (như tăng huyết áp, hút thuốc, và dùng thuốc ngừa thai chứa estrogen) có thể tăng nguy cơ đột quỵ.
  • Bệnh tế bào Sickle
  • Những người bệnh tế bào sickle thì tăng nguy cơ đột quỵ ở tuổi trẻ.
  • Thai kỳ
  • Thai kỳ có nguy cơ rất ít cho đột quỵ, hầu hết ở những phụ nữ có tăng huyết áp.
  • Nguy cơ tăng cao ở giai đoạn hậu sản, có lẽ do thay đổi đột ngột tuần hoàn và nồng độ hormon.
  • Trầm cảm
  • Một vài nghiên cứu cho thấy trầm cảm có thể tăng nguy cơ đột quỵ.
  • Các thuốc kháng viêm Nonsteroidal
  • NSAIDS như iburofen và diclofenac có thể tăng nguy cơ đột quỵ của đột quỵ, đặc biệt ở những bệnh nhân có những yếu tố nguy cơ đột quỵ khác.

 

Tiên lượng

  • Đột quỵ là nguy nhân gây tử vong hàng thứ tư tại Mỹ. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong đang giảm. Hơn 75% bệnh nhân sống sót trong năm đầu sau đột quỵ đầu tiên, và hơn một nửa sống sót sau 5 năm.
  • Độ nặng của đột quỵ thiếu máu so với đột quỵ xuất huyết
  • Những người đột quỵ thiếu máu não có nhiều cơ hội sống sót hơn những người bị đột quỵ xuất huyết.
  • Tuỳ theo loại đột quỵ thiếu máu não, nguy hiểm lớn nhất là đột quỵ do lấp mạch, theo sau là đột quỵ thuyên tắc là lỗ khuyết.
  • Đột quỵ xuất huyết không chỉ phá huỷ tế bào não mà còn gây ra các biến chứng khác, bao gồm tăng áp lực nội sọ và co thắt mạch, cả hai đều rất nguy hiểm. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy các trường hợp sống sót của đột quỵ xuất huyết có cơ hội lớn hơn trong việc hồi phục chức năng so với các trường hợp sống sót của đột quỵ nhồi máu.

 

Các biến chứng lâu dài và sự tàn tật

  • Nhiều bệnh nhân để lại sự yếu liệt cơ thể và thường kèm theo đau và co cứng.
  • Phụ thuộc vào mức độ của các triệu chứng và cơ thể bị ảnh hưởng như thế nào, những suy yếu này có thể ảnh hưởng đến khả năng đi lại, đứng lên từ ghế, tự ăn uống, đến viết hay dùng máy vi tính, lái xe, và nhiều hoạt động khác.

 

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân sống sót

  • Nhiều bệnh nhân đột quỵ sống sót hồi phục chức năng hoàn toàn sau đột quỵ, tuy nhiên 25% để lại tàn tật ít và 40% tàn tật từ trung bình đến nặng.
  • Thang điểm đột quỵ NIH giúp tiên lượng độ nặng và kết cục của bệnh nhân đột quỵ bởi thang điểm gồm 11 yếu tố:
  • Mức độ ý thức
  • Chức năng nhìn ngang
  • Thị trường
  • Vận động mặt
  • Chức năng vận động của tay
  • Chức năng vận động của chân
  • Sự phối hợp
  • Mất cảm giác
  • Các vấn đề về ngôn ngữ
  • Mất khả năng tính toán
  • Sự chú ý
  • Những bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não có điểm dưới 10 có kết cục thuận lợi sau 1 năm, trong khi chỉ 4-16% bệnh nhân có kết cục tốt nếu điểm lớn hơn 20.

 

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tái phát

  • Nguy cơ đột quỵ tái phát cao nhất ở những tuần và tháng đầu tiên sau đột quỵ lần đầu. Tuy nhiên khoảng 25% bệnh nhân đột quỵ lần đầu sẽ có đột quỵ tái phát trong vòng 5 năm.
  • Những yếu tố nguy cơ tái phát bao gồm:
  • Lớn tuổi
  • Có bằng chứng tắc động mạch (có tiền sử về bệnh động mạch vành, bệnh động mạch cảnh, bệnh động mạch ngoại biên, đột quỵ thiếu máu não, hay TIA)
  • Đột quỵ xuất huyết hay do lấp mạch
  • Đái tháo đường
  • Nghiện rượu
  • Bệnh van tim
  • Rung nhĩ

 

Các triệu chứng

  • Những người có nguy cơ hay người chăm sóc những người có nguy cơ đột quỵ nên nhận biết được các triệu chứng điển hình.
  • Người chứng kiến đột quỵ nên đưa bệnh nhân đến bệnh viện càng sớm nếu có thể sau khi xuất hiện những dấu hiệu cảnh báo.
  • Đặc biệt ở những người có migraine hay thường đau đầu nhiều mà không phân biệt được đau đầu bình thường của họ với các triệu chứng của đột quỵ.
  • Thời gian rất quan trọng trong điều trị đột quỵ.
  • Các nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân đến bệnh viện bằng xe cứu thương được điều trị sớm hơn so với những bệnh nhân tự đến phòng cấp cứu.
  • Bệnh nhân nên gọi cấp cứu 115 ngay nếu có bất kỳ dấu hiệu nào của đột quỵ sau đây:
  • Đột ngột tê hay yếu của mặt, tay hay chân, đặc biệt ở một nửa cơ thể
  • Đột ngột lú lẫn, rối loạn lời nói hay không hiểu
  • Đột ngột rối loạn thị giác ở một bên hay hai bên
  • Đột ngột rối loạn việc đi đứng, choáng váng, mất thăng bằng hay mất khả năng phối hợp động tác
  • Đột ngột đau đầu nhiều không biết nguyên nhân
  • Một cách dễ để nhớ các dấu hiệu của đột quỵ là từ "F.A.S.T" (quan trọng nhất là để gọi 115  để hỗ trợ cấp cứu ngay lập tức). FAST có nghĩa là:
  • (F)ACE (mặt)
  • Yêu cầu bệnh nhân cười
  •  Kiểm tra để phát hiện nếu một bên mặt rũ xuống
  • (A)RMS (tay)
  • Yêu cầu bệnh nhân đưa cả hai tay lên
  • Kiểm tra để phát hiện nếu một tay rơi xuống
  • (S)PEECH (nói chuyện)
  • Yêu cầu bệnh nhân lặp lại một câu đơn giản.
  • Kiểm tra để phát hiện nếu nói những từ không trôi chảy và kiểm ta sự lặp lại chính xác câu.
  • (T)IME (thời gian)
  • Nếu bệnh nhân có bất kỳ triệu chứng nào của các triệu chứng này, thời gian là quan trọng để đưa bệnh nhân đến bệnh bệnh viện nhanh chóng nếu có thể. Gọi cấp cứu 115.

 

Các triệu chứng của TIA và đột quỵ thiếu máu não giai đoạn sớm

  • Các triệu chứng của cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) và đột quỵ thiếu máu não giai đoạn sớm thì giống nhau.
  • Tuy nhiên trong trường hợp TIA các triệu chứng phục hồi trong 24 giờ.
  • Nguồn gốc của đột quỵ thường hoặc là động mạch cảnh hoặc là động mạch thân nền.

Những triệu chứng do tắc động mạch cảnh

  • Động mạch cảnh xuất phát từ quai động mạch chủ và đi lên dọc theo cổ cạnh khí quản, và đi vào não.
  • Khi TIA hay đột quỵ là hậu quả từ huyết khối gây tắc nghẽn động mạch cảnh, triệu chứng có thể xảy ra ở mắt hay ở bán cầu đại não.
  • Các triệu chứng bao gồm:
  • Khi oxy đến mắt giảm, bệnh nhân mô tả khiếm khuyết thị giác như bóng tối được kéo xuống, có thể tiến triển thị trường như đêm tối.
  • Khoảng 35% TIA đi kèm với mất thị trường thái dương ở một mắt. Sự suy giảm thị giác xảy ra ở cùng bên với bệnh động mạch cảnh.
  • Khi bán cầu não bị ảnh hưởng, bệnh nhân có thể có vấn đề về ngôn ngữ và yếu liệt một phần và tạm thời, sụp mi, đau nhói, và dị cảm; thường ở một bên cơ thể.
  • Bệnh nhân có thể không nói được hay không hiểu từ ngữ.
  • Nếu đột quỵ gây tổn thương bán cầu phải, triệu chứng sẽ tiến triển ở bên trái của cơ thể và ngược lại.
  • Không thường gặp hơn, bệnh nhân có thể có co giật.

 

Các triệu chứng do tắc động mạch thân nền

  • Động mạch thân nền được hình thành từ phần đáy của xương sọ từ động mạch đốt sống đi lên dọc theo cột sống và hợp nhau ở phía sau của đầu.
  • Khi đột quỵ hay TIA bắt đầu từ đây, cả hai bán cầu của não có thể bị ảnh hưởng vì thế triệu chứng xảy ra ở hai bên cơ thể.
  • Những triệu chứng sau đây có thể gặp:
  • Nhìn mờ, xám hay mất thị lực, thường ở hai mắt
  • Đau nhói hay tê ở miệng cằm hay lợi
  • Đau đầu, thường ở phía sau đầu
  • Choáng váng
  • Buồn nôn và nôn ói
  • Khó nuốt
  • Yếu ở tay và chân, thỉnh thoảng là nguyên nhân gây ngã đột ngột
  • Những đột quỵ xảy ra ở thân não có thể ảnh hưởng đến hô hấp, huyết áp, nhịp tim, và các chức năng sinh tồn khác, tuy nhiên không ảnh hưởng đến suy nghĩ hay ngôn ngữ.

 

Tốc độ khởi phát triệu chứng

  • Tốc độ khởi phát triệu chứng  của đột quỵ thiếu máu não cấp lớn có thể tuỳ theo nguồn gốc:
  • Nếu đột quỵ được gây ra lấp mạch thì khởi phát đột ngột. Đau đầu và co giật có thể xảy ra trong vài giây khi tắc nghẽn.
  • Khi thuyên tắc gây ra đột quỵ, khởi phát thường từ từ, từ vài phút đến vài giờ. Một số trường hợp hiếm tiến triển từ vài ngày đến vài tháng.

Triệu chứng của đột quỵ xuất huyết

Triệu chứng xuất huyết nội sọ

  • Triệu chứng của một xuất huyết nội sọ hay nhu mô điển hình bắt đầu rất đột ngột, tiến triển trong vài giờ, và bao gồm:
  • Đau đầu nhiều
  • Buồn nôn và nôn ói
  • Thay đổi ý thức
  • Co giật

Xuất huyết khoang dưới nhện

  • Khi xuất huyết khoang dưới nhện, các dấu hiệu cảnh báo có thể xảy ra từ lỗ rò mạch máu một vài ngày đến một tháng trước khi trước khi phình mạch phát triển đầy đủ và vỡ.
  • Các dấu hiệu cảnh báo có thể bao gồm:
  • Đau đầu mức độ nặng, khởi phát đột ngột
  • Buồn nôn và nôn ói
  • Nhạy cảm với ánh sáng
  • Các bất thường thần kinh khác. Như co giật, xảy ra ở 8% bệnh nhân
  • Khi phình mạch vỡ, có thể gặp các triệu chứng sau:
  • Đau đầu dữ dội
  • Cổ cứng
  • Nôn ói
  • Thay đổi ý thức
  • Mắt có thể nhìn cố định về một hướng hay mất thị lực
  • Sững sờ, và hôn mê

 

Xem tiếp phần II

Tham khảo

Tiếp cận bệnh nhận đột quỵ


HỎI ĐÁP

VIDEO

                                
                            

Thống Kê Truy Cập