...Kiến thức của bạn - Niềm vui chung của chúng tôi - Nụ cười của bệnh nhân
Hotline: 0908247755

NẤC CỤC

 

 

Biểu hiện lâm sàng

        Một bệnh nhân nam 78 tuổi phàn nàn choáng váng 1 tuần và có xu hướng ngã sang bên phải. Ông ấy đau đầu có buồn nôn và nôn ói và nấc cục ngày càng tăng. Ông ấy không có nói khó, nuốt khó, thay đổi cảm giác, chóng mặt và yếu. Khi các triệu chứng tiến triển ông ấy đã đến bệnh viện.

        Tiền sử nội khoa đáng chú ý về tăng huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tăng lipid máu, migraine, và trầm cảm.

        Các thuốc bệnh nhân đang dùng bao gồm aspirin 81 mg/ngày, atrovastatin, lisinopril 30 mg/ngày, verapamil 240 mg/ngày, và escitalopram.

        Ông ấy không có dị ứng, không hút thuốc, nhưng uống 4 lon bia/ngày. Ông ấy đã nghỉ hưu và sống trong một ngôi nhà di động. Xem xét lại các triệu chứng bao gồm run ngọn chi trên mạn tính, bên trái nhiều hơn bên phải. Ông thường đi bộ với một cây gậy. Tiền sử gia đình không có phát hiện gì.

        Khám thực thể thấy dấu hiệu sinh tồn bình thường, không có âm thổi ở tim và động mạch cảnh. Khám thần kinh ghi nhận trạng thái tâm thần bình thường, đồng tử phải phản xạ yếu, các cơ vận nhãn bình thường, run hai bên với sức cơ bình thường, các phản xạ đối xứng hai bên và không có dấu Babinski, giảm cảm giác châm kim ở chân trái, ngón tay chỉ mũi và các cử động đầu gối-gót không bình thường ở bên phải. Ông ấy không thể đi bộ khi không có người hỗ trợ và có xu hướng ngã sang phải. Ông ấy có rối loạn khi nói bởi vì bị nấc cục từng cơn.

        Nguyên nhân phù hợp nhất của bệnh nhân này với những triệu chứng chính bao gồm nấc cục, choáng váng, ngã sang bên phải, và đau đầu - với các dấu hiệu khám lâm sàng gồm có đồng tử không đều, sức cơ bình thường, giảm cảm giác đau bên chân trái, và thất điều; là:

  • Ngộ độc rượu
  • Migraine
  • Tai biến mạch máu não bán cầu
  • Tai biến mạch máu não thân não

Câu đúng: tai biến mạch máu não thân não

 

Hình ảnh học

          MRI não cho thấy dấu hiệu bất thường ở hành não phải với đột quị thân não cấp tính. MRI trên T2 axial, tăng tín hiệu ở hành não phải và huyết khối một phần động mạch đốt sống có thể làm tăng giá trị chẩn đoán. Các dấu hiệu MRI bổ sung bao gồm teo não toàn bộ lan toả, những thay đổi chất trắng do thiếu máu cục bộ mạn tính, và một nhồi máu lổ khuyết cũ ở hạch nền phải.

         Trên angiogram tái tạo 3 chiều, sự đứt quãng của dòng máu có thể thấy ở động mạch đốt sống phải.

 

Các xét nghiệm bổ sung

         ECG nhịp xong bình thường. Siêu âm tim qua ngã thực quản cho thấy phấn suất tống máu (EF) 60%-70%, rối loạn chức năng tâm trương grade I, suy động mạch chủ nhẹ, và hẹp động mạch chủ nhẹ có độ chênh lệch trung bình 12 mmHg. Tổng phân tích tế bào máu cho thấy số lượng bạch cầu 6.49 K/μL, Hemoglobin: 12.3 g/dL, và tiểu cầu: 274 K/μL. Protein toàn phần dưới 6.2 g/dL và albumin dưới 3.2 g/dL. Điện giải, ure máu, creatinine, xét nghiệm chuyển há, cholesterol, và triglycerides đều bình thường.

 

Quá trình lâm sàng

         Bệnh nhân phần nàn bị nấc cục, xảy ra từng cơn mà không có ở những lần rất lo lắng, nói chuyện, ăn và ngủ. Nấc cục cải thiện sau khi điều trị với chlorpromazine 25 mg uống 3 lần/ngày. Thất điều và dáng điệu chậm chạp có cải thiện với điều trị vật lý trị liệu, nhưng ông ấy vẫn cần một người trợ giúp hỗ trợ đi bộ ở một tuần sau khi nhập viện.

 

Nguyên nhân phù hợp nhất cho nấc cục là:

  • Ngộ độc rượu
  • Migraine
  • Tai biến mạch máu não bán cầu
  • Tai biến mạch máu não thân não

       Câu đúng: tai biến mạch máu não thân não

 

Chẩn đoán

        Các triệu chứng của bệnh nhân như nấc cục, choáng váng, đau đầu, và ngã sang phải kèm với các dấu hiệu khám thấy như đồng tử không đều, sức cơ bình thường, giảm đau ở bên chân trái, và thất điều hằng định nhất với một chẩn đoán hội chứng hành tuỷ bên (Wallenberg). Điều này được xác định bởi MRI và được hỗ trợ bởi chụp mạch máu chỉ ra tắc nghẽn động mạch đốt sống phải.

        Hội chứng hành não bên thì tương đối ít gặp, tổng cộng chỉ 1.9% của nhồi máu não. Kinh điển, hội chứng hành não bên được biểu hiện bởi chóng mặt, choáng váng và rung giật nhãn cầu (các nhân tiền đình), buồn nôn và nôn ói (các nhân tiền đình), khó nói và khó nuốt (dây thần kinh sọ X), và nấc cục (sự định vị mơ hồ). Các hội chứng cùng bên bao gồm hội chứng Horner (bó giao cảm), mất cảm giác đau và nhiệt ở mặt (bó dây thần kinh V), và thất điều (bó tiểu não tuỷ sống). Chỉ có dấu hiệu đối bên là giảm cảm giác đau và nhiệt do tổn thương bó gai đồi thị, do bó này đã bắt chéo tại tuỷ sống. Tắc nghẽn của động mạch đốt sống hay nhánh lớn nhất của nó, động mạch tiểu não sau dưới (PICA), là nguyên nhân thường gặp nhất. Ở những bệnh nhân này, MRI cho thấy một tổn thương hành tuỷ bên và kèm theo huyết khối ở động mạch đốt sống bên phải, hình ảnh này cũng thấy trên chụp mạch máu tái tạo không gian 3 chiều.

          Bệnh nhân này có nhiều đặc điểm của hội chứng Wallenberg kinh điển. Tuy nhiên, ông ấy chỉ có hội chứng Horner một phần (đồng tử co nhỏ, nhưng không có hẹp khe mi hay giảm tiết mồ hôi) và không có giảm cảm giác mặt hay chóng mặt. Trên khám lâm sàng, ông ấy không có giảm cảm giác nửa mặt cùng bên hay rung giật nhãn cầu. Ông ấy có sức cơ bình thường hai bên phù hợp với vị trí hành tuỷ bên không đụng đến bó tháp (bó vỏ gai).

 

Nấc cục

          Nấc cục có thể được định nghĩa như là "các co thắt của cơ hoành tạm thời, không đều, được lặp lại không tự chủ bởi sự đóng đột ngột của thanh môn, gây ra một âm thanh riêng biệt "hic". Cơ chế sinh lý của nấc cục thì không rõ. Tuy nhiên, nấc cục thì không quan trọng, đặc biệt khi tồn tại (> 48 giờ) hay khó trị (> 2 tháng). Nấc cục có thể gây cho bệnh nhân nhiều khó chịu, như ở bệnh nhân này. Nấc cục có thể là nguyên nhân gây ra viêm phổi hít, trầm cảm, viêm thực quản, suy giảm hô hấp, mất ngủ và giảm cân. Nấc cục xảy ra ở 14%-26% các bệnh nhân có hội chứng hành tuỷ bên. Tổn thương giải phẫu chính xác chịu trách nhiệm cho nấc cục thì không biết rõ nhưng có vẻ ở tại hành tuỷ. Bởi vì cung phản xạ nôn bao gồm thần kinh hoành, thần kinh X, và các con đường giao cảm và trung não, có nhiều nguyên nhân khác nhau, phụ thuộc vị trí nơi tổn thương.

 

Các nguyên nhân của nấc cục dai dẳng hay khó trị

 

Hệ thần kinh trung ương

Ngoại biên

Khác

Nhiễm Herpes

Bụng (u phần phụ)

Hoá trị

Chấn thương

Ung thư

Do thuốc (điều trị parkinson, azithromycin, morphine, các thuốc tâm thần)

Viêm tuỷ thị thần kinh và xơ cứng rãi rác từng đám

Ngực (các u cơ hoành, bệnh lympho, bệnh trung thất)

Các dụng cụ (máy tạo nhịp nhĩ, nội soi phế quản, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, stent thực quản, cạo răng, mở khí quản

Hội chứng Parkinson

Dạ dày ruột (u thực quản, bệnh trào ngược dạ dày thực quản, xoắn ruột, Helicobacter pylory)

Các bệnh khác (suy thận mạn, rối loạn điện giải, ethanol, lao)

Co giật

Thiếu máu cục bộ cơ tim

Steroids

U

 

Ngoại khoa (gây mê, các biến chứng sau phẫu thuật)

Bệnh mạch máu (phình mạch, đột quỵ, Lupus ban đỏ rãi rác)

 

 

 

Điều trị

        Hầu hết các trường hợp nấc cục thì tự giới hạn. Chlorpromazine là thuốc duy nhất được FDA chấp thuận điều trị cho nấc cục khó trị. Các thuốc thường dùng khác bao gồm baclofen, gabapentin, và metocloprmide. Nhiều thuốc khác được dùng bao gồm amantadine, thuốc chống trầm cảm, các thuốc ức chế canxi, và lidocaine qua đường tĩnh mạch. Nhiều phương pháp điều trị không dùng thuốc cũng được thử nghiệm, bao gồm châm cứu, giữ nhịp thở, cho giấm vào trong mũi, và kích thích dây thần kinh X.

 


HỎI ĐÁP

VIDEO

                                
                            

Thống Kê Truy Cập