...Kiến thức của bạn - Niềm vui chung của chúng tôi - Nụ cười của bệnh nhân
Hotline: 0908247755

ĐỘNG KINH TOÀN THỂ

Ths.Bs. Trần Văn Tú

(Theo Harrison's Ptactice)

Động kinh toàn thể: Phần I

Chẩn đoán

Các tiến trình chẩn đoán

Chọc dò tuỷ sống

  • Chỉ định nếu nghi ngờ viêm màng não hay viêm não
  • Bắt buộc ở những bệnh nhân nhiễm HIV (thậm chí không có dấu hiệu hay triệu chứng nhiễm trùng)
  • Khảo sát hình ảnh thường được thực hiện đầu tiên ở những trường hợp nghi ngờ tổn thương khối choán chỗ

Điện não đồ

Tổng quát

  • Tất cả các bệnh có thể có co giật nên được đánh giá bằng điện não đồ càng sớm càng có thể.
  • Điện não đồ được dùng để phân loại các cơn co giật và giúp lựa chọn các thuốc chống co giật
  • Các đặc tính của điện não đồ bình thường phụ thuộc tuổi bệnh nhân và mức độ thức tỉnh
  • Được ghi nhận tốt nhất từ vài điện cực sắp xếp lần lượt
  • Các biện pháp hoạt (tăng thông khí [cho 3 hay 4 phút], kích thích ánh sáng, ngủ, và mất ngủ trước đêm) thường được thực hiện để gợi ra các bất thường.
  • Điện não đồ trong thời gian hoạt động co giật giúp thiết lập chẩn đoán rõ hơn.
  • Thường không thể thực hiện điện não đồ trong khi xảy ra cơn.
  • Theo dõi liên tục giai đoạn kéo dài bằng các đơn vị theo dõi từ xa điện não qua video hay các thiết bị xách tay có thể giúp chẩn đoán.
  • Hoạt động dạng động kinh: các bất thường trong cơn hỗ trợ cao cho chẩn đoán động kinh
  • Sự xuất hiện đột ngột của các phóng điện bất thường chứa các gai hay sóng nhọn
  • Không đặc hiệu cho bệnh động kinh nhưng có tần suất nhiều hơn ở bệnh động kinh
  • Sự vắng mặt các hoạt động sóng điện não co giật không loại trừ một cơn co giật.
  • Ở những người đã biết động kinh, bắt đầu đo điện não thường qui giữa các cơn có thể bình thường trên 60%
  • Các cơn co giật cục bộ hay phức tạp có thể xuất phát từ một vùng của vỏ não ở xa điện cực
  • Điện não đồ không được dùng để tiên lượng ở những bệnh nhân có những tình trạng sẽ dẫn đến động kinh.

Các cơn vắng ý thức

  • Gai nhọn 3 Hz và sóng phóng điện bắt đầu và kết thúc đột ngột ở toàn bộ và đối xứng hai bên được xếp chồng lên điện não đồ nền bình thường
  • Các giai đoạn gai nhọn và sóng phóng điện kéo dài hơn một vài giây tương ứng với các dấu hiệu lâm sàng.
  • Thường thấy nhiều hơn các burst (sóng bùng lên cao đột ngột) ở những hoạt động vỏ não bất thường hơn là những nghi ngờ về phương diện lâm sàng
  • Tăng thông khí sẽ gợi ra các phóng điện điện não và thậm chí các cơ co giật; được làm thường qui khi đo điện não.
  • Các cơ vắng ý thức không điển hình
  • Các sóng và gai nhọn chậm toàn thể có tần suất < 2.5/s, không khác gì các hoạt động bất thường khác

 

Các cơn co cứng co giật toàn thể

  • Điện não đồ luôn luôn bất thường trong lúc hoạt động cơn co cứng co giật toàn thể.
  • Giai đoạn co cứng
  • Tăng lên từ từ điện thế thấp toàn thể hoạt động nhanh, theo sau là cường độ cao toàn thể, phóng điện tạo đa gai
  • Giai đoạn co giật
  • Hoạt động cường độ cao điển hình bị gián đoạn bởi các sóng chậm tạo ra một phức hợp gai sóng
  • Điện não đồ sau cơ
  • Lan toả chậm phục hồi từ từ đến khi bệnh nhân tỉnh

 

Các cơn co giật khác

  • Cơn mất trương lực
  • Sự phóng điện tạo các gai sóng toàn thể, ngắn ngay theo sau là sự lan toả sóng chậm có liên quan đến mất trương lực cơ
  • Cơn giật cơ
  • Sự phóng điện gây ra gai sóng đồng thời hai bên đồng bộ với giật cơ; có thể bị che khuất bởi các cử động giả tạo.

Phân loại

Xem tiếp cận co giật: phân loại

Điều trị

Tiếp cận điều trị

  • Điều trị co giật hầu như luôn luôn đa phương thức và bao gồm
  • Điều trị các tình trạng có sẵn
  • Phục hồi các vấn đề chuyển hoá và phòng ngừa tái phát.
  • Điều trị các tổn thương hệ thần kinh trung ương có sẵn nếu có thể.
  • Tránh các yếu thúc đẩy cơn co giật
  • Có thể phòng ngừa hơn nữa các cơn giật không có cần dùng thuốc
  • Ngăn chặn sự tái phát các cơ giật với các thuốc chống co giật hay phẫu thuật
  • Điều trị tâm lý và các vấn đề xã hội
  • Điều trị cấp
  • Chú ý các dấu hiệu sinh tồn và hỗ trợ hô hấp và tim mạch, và điều trị các cơn co giật nếu nó còn tiếp tục
  • Xác định các tình trạng đe doạ sự sống như là nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, rối loạn chuyển hoá hay nhiễm độc thuốc và điều trị thích hợp.
  • Quyết định có điều trị thuốc chống co giật hay không thì yêu cầu phải điều trị thêm bất kỳ bệnh có sẵn.
  • Nếu co giật đã biết, xác định điều trị hiện thời có đủ hay không.
  • Xem trạng thái động kinh để điều trị cấp cứu cho những trường hợp co giật kéo dài.
  • Kế hoạch điều trị
  • Một nhà thần kinh có kinh nghiệm trong động kinh nên thiết kế và thực hiện kiểm tra chiến lược điều trị.
  • Những bệnh nhân có động kinh kháng trị hay yêu cầu phải dùng nhiều thuốc nên được chăm sóc bởi một chuyên gia thần kinh.
  • Các kế hoạch điều trị cho từng bệnh nhân đối với từng dạng động kinh và các nguyên nhân của co giật và sự khác nhau trong hiệu quả và độc tính của các thuốc chống động kinh.
  • Thực hiện phân tích tế bào máu và kiểm tra chức năng gan trước khi điều trị thuốc (để có các giá trị cơ bản) và trong khi điều trị ban đầu và chỉnh liều.
  • Theo dõi điều trị thuốc
  • Theo dõi nồng độ thuốc trong huyết thanh để thiết lập chi tiết liều và các dữ liệu phù hợp
  • Đưa ra "biên độ điều trị" của nồng độ thuốc trong huyết thanh chỉ là một hướng dẫn thích hợp đối với liều từng bệnh nhân riêng rẽ
  • Nói chung, một liều điều trị có thể phòng ngừa các cơn giật không có gây ra các tác dụng phụ không thể chấp nhận được.
  • Các xét nghiệm theo qui ước để đo toàn bộ nồng độ thuốc trong huyết thanh (cả tự do và liên kết với protein).
  • Nồng độ thuốc tự do phản ánh nồng độ thuốc ở dịch ngoại bào trong não và có tương quan tốt nhất với hiệu quả điều trị.
  • Giảm protein huyết thanh có thể làm tăng thuốc tự do với thuốc gắn kết với protein, vì thế nồng độ thuốc tự do có thể đủ để kiểm soát cơn giật.
  • Bệnh nhân có thể có nồng độ thuốc dưới liều điều trị, tuy nhiên liều chỉ nên được thay đổi nếu các cơn co giật vẫn không kiểm soát được.

Các điều trị riêng biệt

Điều trị các tình trạng sẵn có

  • Các yếu tố góp phần gây ra cơn
  • Tối thiểu hoá các yếu tố làm giảm ngưỡng động kinh đã biết.
  • Mất ngủ, stress về cảm xúc và thể chất, phơi nhiễm với các độc chất
  • Rối loạn chuyển hoá
  • Điều trị chống động kinh thường không cần thiết trừ khi rối loạn chuyển hoá không thể điều chỉnh ngay lập tức.
  • Thiếu pyridoxime (vitamin B6), một nguyên nhân quan trọng co giật trẻ sơ sinh, có thể có hiệu quả khi được điều trị pyridoxine thay thế.
  • Thuốc (như theophyline) hay dùng thuốc gây nghiện (như cocaine)
  • Thường không cần điều trị thuốc chống động kinh
  • Những cơn theo sau xảy ra không có yếu tố góp phần gây ra cơn có thể yêu cầu phải sử dụng thuốc.
  • Nếu cơn giật tái phát khi điều trị thuốc, có thể lợi ích từ việc phẫu thuật lấy bỏ vùng não gây động kinh.
  • Tổn thương cấu trúc hệ thần kinh trung ương (u não, dị dạng mạch máu não, hay áp xe não)
  • Các cơn giật có thể không tái phát sau khi điều trị thích hợp các tổn thương có sẵn.
  • Nói chung, sau khi điều trị tổn thương có sẵn, các bệnh nhân được duy trì thuốc chống động kinh ít nhất một năm, giảm liều thuốc từ từ chỉ được xem xét nếu bệnh nhân hoàn toàn không có cơn giật.

Xem tiếp: Động kinh toàn thể - Phần III


HỎI ĐÁP

VIDEO

                                
                            

Thống Kê Truy Cập