...Kiến thức của bạn - Niềm vui chung của chúng tôi - Nụ cười của bệnh nhân
Hotline: 0908247755

ĐỘNG KINH TOÀN THỂ

Ths.Bs. Trần Văn Tú

(Theo Harrison's Practice)

Cơ bản

Định nghĩa

  • Một cơn giật là một sự kiện kịch phát do sự phóng điện đồng bộ, quá mức, bất thường từ một tập hợp các tế bào thần kinh của hệ thần kinh trung ương.
  • Động kinh được chẩn đoán khi có những cơn co giật tái phát do quá trình bệnh sẵn có mạn tính.
  • Động kinh toàn thể là một rối loạn co giật mạn tính được biểu hiện bởi những cơn co giật được tạo ra từ hoạt đồng thời của những vùng lan toả hai bán cầu.
  • Những sự kiện lâm sàng và điện não xảy ra hai bên không nhận thấy khởi phát cục bộ.
  • Xem động kinh cục bộ, bao gồm động kinh thuỳ thái dương để thảo luận về những cơn co giật cục bộ và động kinh cục bộ.
  • Phân loại cơn co giật toàn thể bao gồm:
  • Cơn vắng ý thức (cơn nhỏ)
  • Đột ngột, mất ý thức ngắn không có mất kiểm soát tư thế
  • Cơn co cứng co giật toàn thể (cơn lớn)
  • Đột ngột mất ý thức tiếp theo đầu tiên là co thắt cơ toàn thân (giai đoạn co cứng) và thứ hai là những giai đoạn xếp chồng lên nhau của sự giãn cơ làm cho cơ thể giật theo nhịp (giai đoạn co giật)
  • Cơn co cứng
  • Chỉ xảy ra giai đoạn co cứng.
  • Cơn co giật
  • Chỉ xảy ra giai đoạn co giật.
  • Cơn mất trương lực
  • Đột ngột, trương lực cơ tư thế mất thời gian ngắn có suy giảm ý thức ngắn.
  • Cơn giật cơ
  • Đột ngột, co thắt cơ ngắn

Các hội chứng động kinh

  • Những rối loạn mà động kinh là một đặc tính nổi trội và ở đó có đủ chứng cứ để gợi ý một cơ chế bệnh có sẵn thường gặp
  • Các hội chứng động kinh toàn thể lớn bao gồm:
  • Động kinh giật cơ tuổi thanh thiếu niên (JME)
  • Hội chứng Lennox-Gastaut

Dịch tễ học

  • Tần suất lưu hành
  • Các cơn co giật
  • Khoảng 5-10% dân số sẽ có ít nhất 1 cơn co giật trong suốt đời.
  • Tỉ lệ mắc cao nhất xảy ra ở trẻ nhỏ (sau 1 tuổi và người trẻ) và người già (trên 65 tuổi)
  • Động kinh (tất cả các dạng)
  • 0.5-1.0% dân số; cao hơn ở một vài nơi trên thế giới, như châu Á
  • Động kinh cục bộ thường gặp hơn động kinh toàn thể.
  • Cơn vắng ý thức (cơn nhỏ)
  • Dạng co giật chính ở 15-20% động kinh ở trẻ em
  • Cơn co cứng co giật toàn thể (cơn lớn)
  • Dạng co giật chính ở 10% tất cả bệnh nhân động kinh

Các yếu tố nguy cơ

  • Tiền sử gia đình bệnh động kinh
  • Tiền sử sốt co giật hay tiền triệu sớm hơn hay những cơn co giật ngắn
  • Bất thường về sự phát triển hệ thần kinh trung ương
  • Loạn sinh vỏ não
  • Các bất thường di truyền
  • Các rối loạn chuyển hoá
  • Mất cân bằng điện giải
  • Hạ hay tăng đường huyết
  • Suy thận
  • Suy gan
  • Các rối loạn nội tiết
  • Các rối loạn huyết học
  • Viêm mạch
  • Các thuốc (cả thuốc theo toa và chất gây nghiện)
  • Chấn thương đầu (nguy cơ nhiều về động kinh tương quan với độ nặng của chấn thương)
  • Nguyên nhân có thể tránh được thường nhất của co giật
  • Chấn thương đầu nhẹ (chấn động não có mất trí nhớ hay mất ý thức < 30 phút) chỉ làm tăng nguy cơ nhẹ.
  • Nguy cơ 40-50% nếu vết thương xuyên thấu đầu, gãy lún xương sọ, xuất huyết nội sọ, hôn mê kéo dài sau chấn thương, hay mất trí nhớ
  • Nguy cơ 5-25% ở chấn thương đầu kín và giập não
  • Co giật tái phát thường xảy ra trong vòng 1 năm sau chấn thương (có thể > 10 năm).
  • Có thể là những cơn giật toàn thể hay cục bộ
  • Đột quị
  • Có thể dẫn đến những cơn co giật cục bộ hơn là toàn thể
  • Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương (như viêm màng não)
  • Các bệnh thoái hoá thần kinh (như Alzheimer's)

Nguyên nhân

Sinh bệnh học

  • Các cơn giật được gây ra bởi sự thay đổi cân bằng bình thường giữa kích thích và ức chế bên trong hệ thần kinh trung ương.
  • Động kinh toàn thể có thể là kết quả từ:
  • Bất thường tế bào, sinh hoá, hay cấu trúc có sự phân bố lan rộng trong não gây ra sự khởi phát toàn thể hơn là cục bộ.
  • Bắt đầu ở một vùng cục bộ lan rộng (cơn co giật cục có toàn thể hoá thứ phát)
  • Nhiều nguyên nhân co giật và động kinh là kết quả từ một sự tương tác động học giữa các yếu tố nội sinh, các yếu tố gây ra cơn động kinh, và các yếu góp phần gây ra cơn

Các yếu tố thúc đẩy cơn co giật

  • Stress tâm lý và thực thể
  • Mất ngủ
  • Thay đổi hormon kết hợp với chu kỳ kinh nguyệt
  • Các yếu tố ngoại sinh như là phơi nhiễm với các độc chất và một vài thuốc.

Các gen kết hợp với các hội chứng động kinh

  • Động kinh thuỳ trán về đêm di truyền trội theo nhiễm sắc thể thường (ADNFLE)
  • Vị trí gen: CHRNA4 (20q13.2)
  • Chức năng gen: nhóm thụ thể phụ nicotinic acetylcholine
  • Đột biến gây thay đổi dòng chảy Ca2+ xuyên qua thụ thể.
  • Có thể giảm phóng thích số lượng GABA ở đầu tận cùng trước sinape
  • Các cơn co giật trẻ sơ sinh có tính gia đình lành tính (BFNC)
  • Vị trí gen: KCNQ2 (20q13.3)
  • Chức năng gen: nhóm phụ kênh kali cổng điện thế
  • Đột biến tại các kênh có thể gây giảm 20-40% dòng kali qua kênh có thể dẫn đến giảm sự tái cực.
  • Động kinh toàn thể hoá có thêm sốt co giật (GEFS+)
  • Vị trí gen: SCN1B (19q12.1)
  • Chức năng gen: nhóm phụ β của kênh natri cổng điện thế
  • Đột biến làm đứt cầu nối disulfide là chất chủ yếu của cấu trúc ngoài màng tế bào.
  • Đột biến nhóm phụ β dẫn đến ức chế kênh natri chậm hơn.
  • Động kinh cục bộ di truyền trội theo nhiễm sắc thể thường có các đặc điểm thính giác (ADPEAF)
  • Vị trí gen: LGI1 (10q24)
  • Chức năng gen: gen 1 bất hoạt u thần kinh đệm giàu leucine
  • Các chứng cứ trước đây về vai trò trong tiến triển u thần kinh đệm
  • Protein tương ứng có thể gợi ý một vai trò trong sự phát triển hệ thần kinh trung ương.
  • Động kinh giật cơ tiến triển (PME) (bệnh Unverrich-Lundborg)
  • Vị trí gen: CSTB (21q22.3)
  • Chức năng gen: cystatin B, một chất ức chế noncaspase cysteine protease.
  • Protein bình thường có thể ức chế tiến trình chết tế bào thần kinh bởi sự ức chế trực tiếp caspases hay gián tiếp (qua ngã cathepsins), hay kiểm soát sự huỷ protein.
  • PME (bệnh Lafora)
  • Vị trí gen: EPM2A (6q24)
  • Chức năng gen: Laforin, một protein tyrosine phosphatase (PTP)
  • Có thể ảnh hưởng chuyển hoá glycogen, sự chuyển hoá này được điều hoà bởi phosphatase
  • Não không có nếp nhăn kinh điển kết hợp với chậm tâm thần nặng và co giật ở nam
  • Vị trí gen: Doublecortin (Xq21-24)
  • Chức năng gen: Doublecortin, biểu lộ chủ yếu trong tổn thương thuỳ trán
  • Chức năng không biết rõ: có khả năng truyền tín hiệu bên trong tế bào

Các nguyên nhân của động kinh toàn thể theo tuổi

  • Trẻ sơ sinh (< 1 tháng)
  • Các rối loạn sự phát triển
  • Mẹ lạm dụng thuốc (hay ngưng thuốc)
  • Thiếu oxy và thiếu máu cục bộ chu sinh
  • Xuất huyết nội sọ và chấn thương
  • Các rối loạn chuyển hoá (hạ đường huyết, hạ canxi máu, hạ magie máu, thiếu pyridoxine)
  • Các rối loạn di truyền
  • Trẻ nhủ nhi và trẻ em
  • Sốt co giật
  • Kết hợp với sốt không có nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương
  • Các hội chứng động kinh di truyền
  • Những trùng hệ thần kinh trung ương (đặc biệt viêm màng não và viêm não do vi rút)
  • U hệ thần kinh trung ương (rất hiếm gặp)
  • Tự phát
  • Thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ
  • Các tổn thương mắc phải hệ thần kinh trung ương
  • Các rối loạn về di truyền
  • Chấn thương đầu
  • Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương (bao gồm nhiễm ký sinh trùng như là cysticercosis)
  • U não
  • Bất thường bẩm sinh hệ thần kinh trung ương
  • Dùng thuốc gây nghiện
  • Cai rượu
  • Tự phát
  • Người già
  • Bệnh mạch máu não (~50% các trường hợp động kinh mới ở những bệnh nhân > 65 tuổi)
  • Những cơn co giật cấp thường xảy ra ở bệnh nhân lấp mạch não hơn là đột quị xuất huyết hay thuyên tắc.
  • Những cơn co giật điển hình mạn tính xuất hiện từ nhiều tháng đến nhiều năm sau khi bắt đầu khởi phát của tất cả các dạng đột quị.
  • Chấn thương (bao gồm máu tụ dưới màng cứng)
  • U hệ thần kinh trung ương
  • Các bệnh thoái hoá hệ thần kinh trung ương
  • Các rối loạn chuyển hoá (tăng ure máu, suy gan, bất thường điện giải, hạ đường huyết)
  • Sử dụng và lạm dụng thuốc
  • Cai rượu
  • Tự phát

Các thuốc và các chất có thể gây ra các cơn co giật

  • Thuốc chống vi trùng/chống vi rút
  • β-lactam và các hợp chất liên quan
  • Quinolone
  • Acyclovir
  • Isoniazid
  • Ganciclovir
  • Các thuốc gây mê và giảm đau
  • Meperidine
  • Tramadol
  • Thuốc gây tê tại chỗ
  • Các thuốc ức chế miễn dịch
  • Cyclosporine
  • OKT3 (kháng thể đơn vòng đến các tế bào T)
  • Tacrolimus (FK-506)
  • Interferon
  • Các thuốc hướng thần
  • Thuốc chống trầm cảm
  • Thuốc chống loạn thần
  • Lithium
  • Các chất cản quang
  • Theophylline
  • Ngưng các thuốc an thần - thuốc ngủ
  • Alcohol
  • Barbiturates
  • Benzodiazepines
  • Các thuốc gây nghiện
  • Amphetamines
  • Cocain
  • Phencyclidine
  • Methylphenidate
  • Flumazenil

Chẩn đoán

Các dấu hiệu và triệu chứng

Cơn vắng ý thức (cơn nhỏ)

  • Khởi phát ở trẻ em (tuổi từ 4-8) hay thanh thiếu niên nhỏ tuổi
  • Biểu hiện đột ngột, mất ý thức ngắn không có mất kiểm soát tư thế
  • Cơn điển hình kéo dài chỉ vài giây; ý thức trở lại đột ngột như khi mất; không có lú lẫn sau cơn.
  • Mất ý thức ngắn có thể không dễ thấy về mặt lâm sàng hay biểu hiện duy nhất của cơn phóng điện.
  • Các cơn có thể xảy ra hàng trăm lần mỗi ngày; bệnh nhân có thể không nhận biết hay không thể chuyển tải các vấn đề của cuộc sống.
  • "Sự mơ mộng" không giải thích được hay tình trạng xấu đi trong việc thực hiện ghi nhận từ giáo viên ở trường
  • Thường đi kèm với các dấu hiệu kín đáo, các dấu hiệu vận động hai bên như là chớp mắt nhanh, các cử động nhai, hay các cử động co giật biên độ nhỏ của bàn tay.
  • Thỉnh thoảng kết hợp với các cơn co cứng co giật toàn thể
  • Thường không có vấn đề thần kinh khác
  • Đáp ứng tốt với các thuốc chống co giật đặc hiệu
  • ~60-70% bệnh nhân thuyên giảm nhiều ở tuổi thanh thiếu niên.

Video: cơn vắng ý thức

Cơn vắng ý thức không điển hình

  • Sự lệch hướng về phương diện lâm sàng và điện não đồ so với cơn vắng ý thức điển hình
  • Mất ý thức thường kéo dài hơn và ít có đột ngột lúc khởi phát hay lúc dừng cơn.
  • Cơn được kèm theo những dấu hiệu vận động rõ hơn (Các đặc điểm khu trú hay một bên).
  • Thường kết hợp với bất thường cấu trúc đa ổ hay lan toả của não; có thể kèm theo các dấu hiệu khác của rối loạn chức năng thần kinh (như chậm tâm thần)
  • Ít đáp ứng hơn với các thuốc chống co giật so với cơn vắng ý thức điển hình.

Cơn co cứng co giật toàn thể (cơn lớn)

  • Dạng co giật thường gặp nhất trong rối loạn chuyển hoá; tần suất được gặp ở nhiều bệnh cảnh lâm sàng khác nhau.
  • Thường khởi đầu đột ngột không có cảnh báo trước; thỉnh thoảng những triệu chứng báo trước mơ hồ trong những giờ trước cơn
  • Phân biệt với những tiền triệu rập khuôn có kèm theo những cơn co giật cục bộ toàn thể hoá thứ phát
  • Điển hình là một vài co thắt cơ hay hay cảm giác lo lắng chủ quan
  • Giai đoạn đầu của co giật: co cứng các cơ toàn bộ cơ thể
  • Co cứng cơ thở ra và cơ thanh quản lúc khởi phát gây ra tiếng kêu lớn hay  "tiếng kêu gào trong cơn".
  • Suy giảm hô hấp; ứ dịch ở họng thanh quản; tím tái.
  • Co thắt các cơ hàm có thể gây cắn lưỡi.
  • Tăng trương lực giao cảm; tăng nhịp tim, huyết áp và kích cỡ đồng tử
  • Sau 10-20 giây; giai đoạn co cứng của cơn giật chuyển sang giai đoạn co giật (sự chồng lên nhau của những giai đoạn giãn cơ ở các cơ co cứng)
  • Những giai đoạn giãn cơ tiến triển tăng dần cho đến khi kết thúc giai đoạn co giật, thường kéo dài không hơn 1 phút.
  • Giai đoạn sau cơn được biểu hiện bởi sự không đáp ứng, mềm nhũn cơ, và tăng tiết nước bọt có thể gây thở khò khè và tắt nghẽn một phần đường thở.
  • Bàng quang và ruột không tự chủ có thể xảy ra
  • Ý thức trở lại từ từ trong nhiều phút đến nhiều giờ
  • Lú lẫn sau cơn
  • Đau đầu, mệt, và đau cơ có thể kéo dài nhiều giờ.
  • Giai đoạn sau cơ ở những bệnh nhân có các cơn co giật kéo dài hay tổn thương hệ thần kinh trung ương có sẵn (như teo não do rượu).
  • Các biến thể của cơn co cứng co giật toàn thể bao gồm các cơn co cứng đơn thuần và cơn co giật đơn thuần.
  • Các cơn co giật ngắn kéo dài chỉ vài giây thường được kết hợp với các hội chứng động kinh riêng biệt có hiện tượng co giật phối hợp (như hội chứng Lenox-Gastaut).

Cơn mất trương lực

  • Biểu hiện bởi sự mất đột ngột của trương lực cơ tư thế kéo dài 1-2 giây
  • Ý thức suy giảm ngắn; thường không có lú lẫn sau cơn.
  • Một cơn rất ngắn có thể gây ra cử động gục xuống hay gập đầu nhanh, trong khi một cơn dài hơn sẽ gây bệnh nhân ngã.
  • Nguy cơ cao gây chấn thương đầu khi ngã
  • Giống với các cơn co cứng đơn thuần
  • Thường kết hợp với các hội chứng động kinh đã biết

Cơn giật cơ

  • Giật cơ là một cơn co thắt cơ đột ngột và ngắn có thể gây ảnh hưởng một phần hay toàn bộ cơ thể.
  • Dạng sinh lý bình thường thường gặp: cử động giật đột ngột trong khi ngủ
  • Giật cơ bệnh lý: kết hợp với các rối loạn chuyển hoá, các bệnh thoái hoá hệ thần kinh trung ương, hay tổn thương não do thiếu oxy.
  • Xem xét có phải là cơn động kinh thật sự được gây ra bởi rối loạn chức năng vỏ não.
  • Thường tồn tại cùng với các thể khác của co giật toàn thể
  • Là đặc tính nổi trội của JME

Các cơn không phân loại

  • Không phải tất cả các cơn co giật có thể được phân loại là cục bộ hay toàn thể; đặc biệt ở trẻ sơ sinh và nhủ nhi.

Các hội chứng động kinh toàn thể

  • Những hội chứng trong đó động kinh là đặc điểm nổi trội, có đủ chứng cứ (như lâm sàng, điện não, các khảo sát về X quang hay di truyền) gợi ý một cơ chế thường gặp có sẵn
  • JME
  • Cơn co giật toàn thể không biết nguyên nhân
  • Thường là một động kinh có tiền sử gia đình
  • Xuất hiện ở tuổi thiếu niên
  • Thường được biểu hiện bởi những cơn giật cơ hai bên một lần hay lặp lại
  • Các cơn giật cơ thường nhất vào lúc thức; có thể được khêu gợi bởi mất ngủ.
  • Ý thức được bảo tồn trừ khi trường hợp nặng
  • Nhiều bệnh nhân cũng có cơn co cứng co giật toàn thể; trên 1/3 có cơn vắng ý thức
  • Là hội chứng động kinh lành tính
  • Đáp ứng tốt với điều trị chống co giật thích hợp
  • Hội chứng Lennox-Gastaut
  • Xảy ra ở trẻ em
  • Được xác định bởi nhiều dạng cơn giật, các dấu hiệu điện não điển hình, và suy giảm chức năng nhận thức trong hầu hết các trường hợp
  • Sự phản ứng không đặc hiệu của não với các bệnh hay rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương từ các nguyên nhân khác nhau (như bất thường sự phát triển, thiếu máu não hay thiếu oxy chu sinh, chấn thương, nhiễm trùng, và các tổn thương mắc phải khác)
  • ADNFLE
  • Khởi phát ở trẻ em; cơn ngắn, về đêm có những cử động nổi trội về vận động
  • Hiếm hơn; có thể nhầm lẫn rối loạn giấc ngủ nguyên phát
  • BFNC
  • Khởi phát trong tuần đầu tiên của nhóm trẻ em riêng
  • GEFS+
  • Biểu hiện với sốt co giật trung bình khoảng 1 năm, có thể tồn tại > 6 năm, rồi sau đó các dạng co giật khác nhau không kèm với sốt
  • ADPEAF
  • Động kinh thuỳ thái dương bên tự phát có triệu chứng thính giác hay mất ngôn ngữ như là một biểu hiện cơn cục bộ đơn giản lớn
  • Tuổi khởi phát thường giữa 10 và 25 tuổi
  • PME (bệnh Unverricht-Lundborg)
  • Cơn giật cơ, thất điều và suy giảm nhận thức tiến triển; hình ảnh thoái hoá thần kinh ở não
  • Tuổi khởi phát 6-15 tuổi
  • PME (bệnh Lafora)
  • Khởi phát: 6-19 tuổi, tử vong trong 10 năm
  • Thoái hoá não và các thể vùi trong nhiều cơ quan
  • PME thường gặp nhất ở miền Nam châu Âu, Trung Đông, Bắc Phi, và tiểu lục địa Ấn Độ
  • Não phẳng (không có nếp nhăn) kinh điển
  • Kết hợp với chậm tâm thần nặng và co giật ở nam
  • Những dải vùng dưới vỏ lạc chổ có những dấu hiệu kín đáo hơn ở nữ (có lẽ do sự bất hoạt ngẫu nhiên nhiễm sắc thể X)
  • Di truyền trội liên kết với nhiễm sắc thể X

Các chẩn đoán phân biệt

Tiếp cận chẩn đoán

  • Đánh giá cấp
  • Chú ý các dấu hiệu sinh tồn và hỗ trợ hô hấp và tim mạch; điều trị bất kỳ cơn giật tái phát
  • Hỏi tiền sử và khám lâm sàng đầy đủ
  • Xác định đây là một cơn co giật hay sự kiện kịch phát khác.
  • Xác định lúc khởi phát cơn là cục bộ hay toàn thể.
  • Nếu bệnh nhân đã biết tiền sử co giật hay động kinh, đánh giá đầy đủ các điều trị trước đây.
  • Cơn co giật duy nhất hay các cơn tái phát do những tình huống có thể điều chỉnh hay có thể tránh được không nhất thiết là bệnh động kinh.
  • Xác định và điều trị bất kỳ tình trạng nào gây đe doạ sự sống: nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, rối loạn chuyển hoá, hay nhiễm độc thuốc.
  • Xác định các nguyên nhân có sẵn và các yếu tố thúc đẩy cơn co giật.
  • Các khảo sát cận lâm sàng ban đầu: tổng phân tích tế bào máu, điện giải, calcium, magnesium, đường, chức năng gan và thận, tổng phân tích nước tiểu, và xét nghiệm độc chất
  • MRI và điện não đồ nếu không có nguyên nhân chuyển hoá
  • Nếu có khả năng là nguyên nhân chuyển hoá hay nhiễm trùng, sau đó làm thêm nữa có thể bao gồm chọc dò tuỷ sống, cấy, xét nghiệm về nội tiết, CT, và MRI (nếu có dấu hiệu khu trú).
  • Tiền sử
  • Chủ yếu khai thác sâu về tiền sử
  • Chẩn đoán thường dựa vào lâm sàng; khám thực thể và các khảo sát cận lâm sàng thường bình thường.
  • Tập trung vào những triệu chứng trước, trong khi, và sau giai đoạn co giật.
  • Hỏi các nhân chứng của sự kiện xảy ra.
  • Tập trung vào các yếu tố nguy cơ và các yếu tố thúc đẩy cơn.
  • Tiền sử sốt co giật; các cơn co giật ngắn hay những tiền triệu sớm không ghi nhận được; những cơn co giật có tính gia đình
  • Xác định các chấn thương đầu trước đây, đột quị, u, hay dị dạng mạch máu.
  • Ở trẻ em, đánh giá sự phát triển qua các mốc thời gian.
  • Xác định các yếu tố thúc đẩy cơn co giật: mất ngủ, các bệnh hệ thống, các rối loạn chuyển hoá hay điện giải, nhiễm trùng cấp tính, các thuốc làm thấp ngưỡng co giật, dùng rượu hay thuốc gây nghiện.
  • Khám thực thể
  • Các dấu hiệu nhiễm trùng hay bệnh hệ thống
  • Da: các dấu hiệu u sợi thần kinh, xơ lao, bệnh gan hay thận mạn
  • Lớn cơ quan: các bệnh dự trữ chuyển hoá
  • Mất cân xứng chi: tổn thương sự phát triển của não
  • Các dấu hiệu của chấn thương đầu hay lạm dụng rượu hay thuốc
  • Nghe tim và động mạch cảnh: bệnh mạch máu não
  • Khám thần kinh đầy đủ
  • Được yêu cầu ở tất cả các bệnh nhân
  • Tập trung vào các dấu hiệu của bệnh bán cầu não.
  • Đánh giá tình trạng tâm thần (bao gồm trí nhớ, chức năng ngôn ngữ, và suy nghĩ trừu tượng) để gợi ý những tổn thương ở thuỳ trán trước, thuỳ đính, hay thuỳ thái dương.
  • Kiểm tra chức năng vận động: sự trôi của cơ gấp cánh tay quay, phản xạ gân cơ, dáng điệu, và sự phối hợp có thể gợi ý tổn thương vỏ não vận động (thuỳ trán).
  • Những bất thường thần kinh khu trú có thể có giai đoạn ngắn sau một cơn giật thậm chí không có tổn thương khu trú hệ thần kinh trung ương.
  • Các khảo sát cảm giác vỏ não (như kích thích đồng thời hai điểm) có thể phát hiện các tổn thương ở vỏ não thuỳ đính.
  • Các phân tích điện não
  • Để giúp phân biệt cơn cục bộ với những cơn co cứng co giật toàn thể nguyên phát.

Các khảo sát cận lâm sàng

  • Điện giải đồ, đường, calcium, magnesium, chức năng gan và thận, tổng phân tích nước tiểu
  • Để xác định các nguyên nhân chuyển hoá của các cơn giật
  • Nếu bất thường, tuy nhiên không có ý nghĩa đáng kể, và hiếm khi là biểu lộ duy nhất của nguyên nhân bệnh có sẵn
  • Tổng phân tích tế bào máu
  • Để giúp xác định các nguyên nhân nhiễm trùng
  • Nồng độ prolactin trong huyết thanh
  • Hầu hết các cơn giật toàn thể và nhiều cơn cục bộ phức tạp được kèm theo bởi sự tăng prolactin trong huyết thanh (trong thời gian ngay 30 phút sau cơn); các cơn co giật do tâm lý thì không.
  • Có thể phân biệt giữa co giật thực thể và tâm lý
  • Xét nghiệm độc chất (máu và nước tiểu)
  • Trong những nhóm nguy cơ thích hợp; đặc biệt khi không xác định được rõ ràng các yếu tố góp phần gây ra cơn
  • Chọc dò tuỷ sống
  • Nếu có bất kỳ nghi ngờ viêm màng não hay viêm não
  • Bắt buộc ở những bệnh nhân nhiễm HIV
  • Cấy dịch
  • Nếu nghi ngờ nguyên nhân nhiễm trùng

Khảo sát hình ảnh

  • Hình ảnh não ở các cơn co giật mới khởi phát
  • Đánh giá các bất thường cấu trúc sẵn có
  • Được khuyến cáo ở tất cả các bệnh nhân có co giật, ngoại trừ ở những trường hợp rõ ràng là cơn co giật toàn thể lành tính, kinh điển (như cơn vắng ý thức)
  • CT hay MRI bất thường ở ~10% bệnh nhân có cơn co giật đầu tiên và có thể chỉ ra một nguyên nhân riêng biệt.
  • MRI
  • Ưu thế hơn CT cho việc phát hiện các tổn thương ở não kết hợp với động kinh.
  • Tiến hành trong một vài ngày để đánh giában đầu
  • Có thể xác định u, dị dạng mạch máu, hay những bệnh thực thể khác đòi hỏi phải điều trị
  • Chụp FLAIR làm tăng độ nhạy để phát hiện
  • Bất thường cấu trúc vỏ não
  • Lạc chỗ và các bất thường liên quan ở thần kinh lạc chỗ của vỏ não
  • Teo hồi hải mã kèm theo xơ hoá thuỳ thái dương giữa
  • CT
  • Điển hình được dùng như là khảo sát hình ảnh cấp cứu ban đầu cho nghi ngờ nhiễm trung hệ thần kinh trung ương hay tổn thương khối choán chỗ khi MRI không có khả năng thực hiện ngay
  • Chụp cắt lớp bức xạ dương; chụp cắt lớp điện toán bức xạ photon đơn
  • Để đánh giá các cơn co giật kháng trị với thuốc

Xem tiếp: Động kinh toàn thể - Phần II

Xem tiếp: Động kinh toàn thể - Phần III


HỎI ĐÁP

VIDEO

                                
                            

Thống Kê Truy Cập