...Kiến thức của bạn - Niềm vui chung của chúng tôi - Nụ cười của bệnh nhân
Hotline: 0908247755

KHÁM 12 DÂY THẦN KINH SỌ

Dây I (Khứu giác)

  • Mục đích
  • Để phát hiện các sang thương vùng trán - ổ mắt, mảnh sàng, hoặc sự gián đoạn của thần kinh khứu giác khi đi qua mảnh sàng do chấn thương
  • Cách thực hiện
  • Dùng chất không bay hơi như xà phòng
  • Không dùng cồn hoặc amonia vì kích thích cả dây V.
  • Yêu cầu bệnh nhân nhắm mắt lại, bịt một mũi, hít và nói xem có ngửi thấy mùi gì lạ không.
  • Có thể thử bằng cách lúc thì để vật có mùi gần mũi, lúc thì lấy ra để đánh giá bệnh nhân.

Dây II (Thị giác)

  • Soi đáy mắt
  • Mục đích
  • Để phát hiện phù gai thị trong tăng áp lực nội sọ
  • Teo gai thị ở bệnh nhân có tổn thương dây thần kinh thị mạn tính.
  • Đĩa đệm lõm ở bệnh nhân glaucoma
  • Thay đổi mạch máu liên quan với các bệnh lý hệ thống như tăng huyết áp và tiểu đường, và các bất thường đáy mắt khác.
  • Cách thực hiện: học soi đáy mắt trên lâm sàng

Phù gai thị                                               Teo gai thị                                          Xuất huyết võng mạc

 

  • Thị lực
  • Mục đích
  • Để phát hiện các khiếm khuyết trong đường thị giác ở võng mạc, thần kinh thị và ở não.
  • Cách thực hiện
  • Yêu cầu bệnh nhân mang kính, hoặc dùng kính lỗ để điều chỉnh tật khúc xạ nếu có.
  • Dùng bảng Snellen cách 6m, hoặc bảng Rosenbaun cách 35cm kiểm tra riêng từng mắt (mắt kia che lại).
  • Đảm bảo bảng chữ được chiếu sáng tốt.
  • Ghi kết quả
  • Thị lực được tính vào hàng chữ nhỏ nhất mà bệnh nhân đọc được.
  • Thị trường đối chứng
  • Mục đích
  • Xác định vị trí và độ rộng của khiếm khuyết thị trường
  • Để xác định các khu sang thương của đường thị giác
  • Có thể dùng đồng thời hai bên để kiểm tra khiếm khuyết thị trường.
  • Cách thực hiện
  • Đứng trước mặt bệnh nhân cách 50-60cm, và đưa tay người khám ra bên khoảng 60cm giữa người khám và bệnh nhân.
  • Bệnh nhân và người khám cùng che mắt đối diện nhau, hai mắt còn lại nhìn thẳng vào nhau.
  • Đảm bảo bệnh nhân vẫn nhìn thẳng vào mắt người khám, nếu bệnh nhân không thể duy trì sự cố định nào thì có thể họ mất kiên trì vận động.
  • Cử động nhẹ 1-2 ngón tay, và yêu cầu bệnh nhân nói hoặc chỉ về ngón táy khi chúng cử động.
  • Ghi nhận
  • Nếu bệnh nhân không đáp ứng với kích thích: xác định giới hạn vùng thị trường bị mất bằng cách di chuyển từ từ ngón tay của người khám vào trong cho đến khi bệnh nhân thấy được.
  • Một số bệnh nhân thấy được kích thích ở thị trường từng bên khi kích thích riêng từng bên mắt nhưng khi kích thích hai bên cùng lúc thì chỉ nhận biết được một bên, hiện tượng này gọi là sự triệt tiêu thị giác với kích thích đồng thời hai bên.
  • Phân tích: Sơ đồ khiếm khuyết thị trường

 

 

              Bán manh thái dương 2 bên                  Bán manh  mũi 2 bên                        Bán manh đồng danh bên phải          

                                   Góc manh đồng danh 1/4 dưới bên phải   Góc manh đồng danh 1/4 trên bên phải

Đồng tử (Dây II và III)

  • Mục đích
  • Kích thước đồng tử và phản xạ ánh sáng phản ánh các hoạt động
  • Đường thị giác
  • Thân não
  • Đường phó giao cảm của dây III
  • Hệ thần kinh giao cảm
  • Cách thực hiện
  • Hình dạng và kích thước đồng tử
  • Ghi nhận kích thước đồng tử trong phòng sáng bình thường và sáng mờ khi bệnh nhân đang nhìn cố định vào một điểm ở xa.
  • Ghi nhận sự không cân xứng và hình dạng đồng tử bất thường nếu có.
  • Phân tích
  • Kích thước đồng tử hai bên có thể chênh nhau ≤ 1mm ở người bình thường.
  • Các sang thương hướng tâm (dây II) không làm thay đổi kích thước đồng tử.
  • Sự lệch nhau của kích thước đồng tử hoặc rối loạn đường phó giao cảm (dây III) hoặc đường giao cảm.
  • Phản xạ ánh sáng
  • Chiếu ánh sáng chéo vào một mắt và quan sát đáp ứng ở cả hai đồng tử
  • Tắt đèn để cho đồng tử trở lại bình thường và sau đó chiếu sáng vào mắt kia.
  • Thường đáp ứng trực tiếp và đồng cảm đều như nhau.
  • Phân tích
  • Sang thương một bên dây hướng tâm (dây II): đồng tử hai bên đều nhau nhưng đồng tử co tốt hơn khi chiếu sáng ở bên mắt bình thường.
  • Sang thương 1 bên của dây ly tâm (dây III): đồng tử không đều, bên tổn thương đồng tử bị dãn và kém đáp ứng với ánh sáng bất kể kích thích ở mắt nào. Dùng ánh sáng càng mạnh thì sự chênh lệch về kích thước đồng tử càng lớn.
  • Sang thương giao cảm một bên (hội chứng Horner): đồng tử bên bị ảnh hưởng sẽ bị co lại. Sự chênh nhau về kích thước đồng tử sẽ rõ nhất khi dùng ánh sáng mờ.

 

                                                                             Cung phản xạ ánh sáng

  • Sự hội tụ
  • Kiểm tra sự hội tụ
  • Yêu cầu bệnh nhân nhìn vào 1 điểm từ xa di chuyển vào gần (đến cách mũi bệnh nhân ♯ 15cm).
  • Dùng tay bệnh nhân là tốt nhất: giữ tay bệnh nhân và di chuyển nó hướng về giữa 2 mắt bệnh nhân.
  • Phân tích
  • Hội tụ nhãn cầu đi kèm với sự co đồng tử.
  • Ghi kết quả
  • Đồng tử bình thường phải đều bằng nhau, tròn, đáp ứng với ánh sáng và có sự hội tụ.

Dây vận nhãn ngoài (III, IV và VI)

  • Đồng tử: xem ở trên
  • Sụp mi
  • Mục đích
  • Để tìm bằng chứng của rối loạn chức năng dây III hoặc giao cảm, hoặc của khiếm khuyết thần kinh cơ.
  • Phân tích
  • Sụp mi trong sang thương dây III có thể sụp hoàn toàn.
  • Sụp mi nhẹ ít khi sụp phủ kín đồng tử ở bệnh nhân có hội chứng Horner.
  • Sụp mi xuất hiện và tăng dần khi cho nhìn lên kéo dài gợi ý nhược cơ.

           Liệt dây III                                                                                    Hội chứng Horner

  • Vận nhãn
  • Mục đích
  • Để kiểm tra tính nguyên vẹn của trung tâm nhìn, dây III, IV, VI và bó dọc giữa.
  • Hệ thống tiểu não và tiền đình cũng ảnh hưởng vận động của mắt.
  • Cử động nhìn theo vật di chuyển từ từ và đều đặn (Smooth pursuit)
  • Cách thực hiện
  • Đưa ngón tay trước mặt bệnh nhân cách mắt tối thiểu 60cm.
  • Yêu cầu bệnh nhân nhìn vào ngón tay khi người khám di chuyển nó một cách đều đặn.
  • Di chuyển ngón tay theo hình chữ H, đầu tiên theo nét ngang "−" để đánh giá chức năng nhìn ngang 2 bên, sau đó theo hai nét dọc "ΙΙ" để đánh giá vận động dọc theo cả 4 góc.
  • Phân tích
  • Nhãn cầu vận động sang bên phải hoàn toàn: phần lớn bệnh nhân có dấu hiệu "chôn củng mạc", tức là khi nhìn ngang tối đa, chúng ta không thể thấy được phần củng mạc nằm giữa mống mắt và góc ngoài của mắt.
  • Đánh giá mức độ nhìn dọc. Giới hạn nhìn lên là dấu hiệu bình thường ở nhiều người lớn tuổi.
  • đánh giá sự êm ả của vận động mắt. Các sang thương ảnh hưởng đường phối hợp nhìn ngang, dọc, cũng như các sang thương hạch nền và tiểu não, có thể gây mất "smooth pursuit". Các bệnh nhân này, nhãn cầu thường có hiện tượng giật nhiều và giật chậm khi nhìn theo vật di chuyển.
  • Tìm xem có rung giật nhãn cầu (nystagmus) không.
  • Test kính đỏ (Lancaster): dùng để phát hiện hướng song thị, đây là hướng mà ảnh song thị rõ nhất, khoảng cách hai hình rộng nhất, hướng này là hướng cơ liệt. Sau đó dùng một miếng kiếng đỏ đặt vào một mắt và bảo bệnh nhân xác định hình nào ở phía ngoài nhất (hình màu đỏ hay không đỏ), mắt cho hình ảnh ngoài chính là mắt có cơ bị bệnh.
  • Cử động nhãn cầu dạng giật (Saccadic eye movements)
  • Cách thực hiện
  • Đưa hai tay người khám cách bệnh nhân ♯ 30 cm
  • Yêu cầu bệnh nhân nhìn từ tay này sang tay kia
  • Phân tích
  • Bình thường vận động mắt nhanh và chính xác
  • Vận động mắt chậm và/hoặc biên độ thấp ở cả hai mắt khi nhìn về một hướng chứng tỏ có liệt chức năng nhìn.
  • Vận động chậm chỉ ở mắt nhìn vào trong chứng tỏ có liệt vận nhãn liên nhân 1 phần.
  • Vận động mắt không tới hoặc quá tầm, sau đó giật mắt lại điều chỉnh có thể do rối tầm của tổn thương tiểu não gây ra.
  • Rung giật nhãn cầu khi vận động mắt (opticokinetic nystagmus)
  • Cách thực hiện
  • Dùng một cái trống có vạch trắng đen xen kẽ nhau, cho nó di chuyển xoay trước hai mắt bệnh nhân.
  • Thấy bệnh nhân đưa mắt theo 1 vạch nền trên trống và mắt sẽ giật để nhìn sang vạch kế tiếp, tạo ra cử động dạng nystagmus.
  • Phân tích
  • Các sang thương thuỳ trán làm giảm cử động giật của mắt về đối bên tổn thương.
  • Các sang thương đính - chẩm làm giảm cử động chậm đưa mắt về phía sang thương.
  • Phản xạ mắt búp bê: xem phần khám bệnh nhân hôn mê

Dây V (tam thoa)

  • Vận động
  • Mục đích
  • Kiểm tra phân nhánh V3 (hàm dưới).
  • Khám
  • Sờ cơ cắn khi bệnh nhân nghiến chặt răng, yêu cầu bệnh nhân há miệng.
  • Phân tích
  • Bình thường cơ cắn hai bên đều bằng nhau và chắc, hàm dưới di chuyển theo chiều dọc chứ không lệch sang bên.
  • Yếu cơ chân bướm bên nào hàm lệch sang bên đó.
  • Phản xạ cằm
  • Mục đích
  • Kiểm tra phản xạ cơ nhai (cơ cắn và cơ thái dương)
  • Khám
  • Yêu cầu bệnh nhân để hàm dưới hơi trễ xuống
  • Đặt ngón tay người khám bắt ngang cằm bệnh nhân dưới môi dưới.
  • Dùng búa phản xạ gõ nhẹ nhưng dứt khoát lên ngón trỏ của người khám.
  • Phân tích
  • Người bình thường không có phản xạ cằm hoặc phản xạ rất nhẹ.
  • Phản xạ cằm rõ (khi gõ bệnh nhân sẽ há miệng) có thể là bình thường, nhưng thường do sang thương hai bên của bó vỏ hành (hội chứng giả hành).
  • Ghi kết quả
  • Mất, nhẹ, rõ, clonus hoặc 0, 1+, 2-3+, 4+.
  • Cảm giác
  • Mục đích
  • Để đánh giá chức năng cảm giác của 3 phân nhánh dây tam thoa và các đường trung ương của cảm giác vùng mặt.
  • Khám
  • Kiểm tra cảm giác sờ nông và cảm giác đau ở các vùng của dây V1, V2, V3 và so sánh hai bên.

  • Phân tích
  • Giảm cảm giác có thể do các sang thương ở dây V cùng bên, nhân, hoặc nhân bó xuống gây mất cảm giác đau và nhiệt cùng bên sang thương.
  • Các sang thương bó cảm giác tam thoa - đồi thị hướng lên đối bên, ở đồi thị, tia đồi thị lên vỏ não hoặc ở vỏ não, gây mất cảm giác đau và nhiệt đối bên sang thương.
  • Phản xạ giác mạc (dây V và VII)
  • Mục đích
  • Đánh giá đường vào (dây V) và đường ra (dây VII)
  • Khám
  • Dùng một mẩu bông gòn, yêu cầu bệnh nhân nhìn sang bên đối diện và hơi lên trên.
  • Chạm nhẹ nhàng vào giác mạc (củng mạc không cảm giác)
  • Quan sát thấy bệnh nhân nháy mắt cả hai bên (trực tiếp và đồng cảm).
  • Sau đó làm tương tự ở mắt còn lại.
  • Phân tích
  • Giảm hay mất phản xạ giác mạc thường được nghĩ do sang thương cung phản xạ.
  • Tuy nhiên, các sang thương cảm giác trên khoanh có thể gây ra sự giảm phản xạ giác mạc đối bên.
  • Nháy mắt bị giảm biên độ ở 1 bên (dù kích thích bên nào cũng vậy) cho thấy có sang thương dây VII bên giảm nháy mắt.

Dây VII (Thần kinh mặt)

  • Vận động cơ mặt
  • Mục đích
  • Để đánh giá các bất thường trong vận động mặt do các khiếm khuyết trong đường trung ương hoặc ngoại biên.
  • Quan sát: lúc nghỉ ngơi
  • Tìm sự mất cân xứng trên mặt (khe mi, nếp mũi má, nhân trung...), chú ý rằng một số người bình thường cũng có nét không cân xứng nào đó.
  • Quan sát sự biểu lộ cảm xúc tự như cười hoặc nhăn nhó.
  • Khám: vận động chủ ý
  • So sánh hai bên, yêu cầu bệnh nhân nhăn trán, nhắm nghiền mắt, hỉnh mũi, nhe răng, cười, huýt gió, chu môi, phồng má...
  • Đánh giá sức cơ hai bên bằng cách yêu cầu bệnh nhân cố gắng chống lại lực mở mắt (khi bệnh nhân đang nhắm nghiền mắt), hoặc lực mở môi (chu môi). Xem bệnh nhân có thể thổi phồng má và giữ khí trong miệng chống lại lực từ ngoài đè vào không.
  • Phân tích
  • Yếu cơ mặt một bên khi so sánh với bên kia. Có thể do tổn thương trung ương hoặc ngoại biên.
  • Yếu cơ kiểu tổn thương thần kinh VII trung ương chỉ ảnh hưởng đến 1/4 dưới mặt đối bên tổn thương.
  • Yếu kiểu dây VII ngoại biên thì ảnh hưởng cả nửa mặt cùng bên tổn thương.
  • Yếu cơ mặt hai bên: dể bỏ sót do vẫn cân xứng
  • Cười không nổi (như đang mếu)
  • Cần kiểm tra sức cơ vòng mi và vòng miệng
  • Yếu cơ hai bên kiểu trung ương có thể do liệt giả hành, thường có phản xạ cằm tăng.

                                           Liệt VII ngoại biên trái                                  Liệt VII ngoại biên hai bên      

  • Thính lực
  • Mục đích
  • Yếu cơ bàn đạp do liệt VII ngoại biên sẽ làm màng nhĩ bị rung quá mức khi tiếp nhận âm thanh tần số thấp.
  • Khám
  • Không thể kiểm tra bệnh nhân tại giường.
  • Thường ghi nhận có tình trạng tăng thính lực đối với âm thanh tần số thấp (bị chát tai với âm thanh tần số thấp)
  • Vị giác
  • Mục đích
  • Để giúp phân biệt liệt mặt trung ương và ngoại biên
  • Để định khu vị trí tổn thương trong liệt mặt ngoại biên (đoạn nằm giữa thân não và tai trong, nơi thừng nhĩ rời khỏi thần kinh mặt), nhánh này chi phối vị giác 2/3 trước lưỡi.
  • Khám
  • Nhúng một tăm bông gòn vào dung dịch muối hoặc đường.
  • Yêu cầu bệnh nhân thè lưỡi ra, chạm nhẹ tăm bông gòn vào nửa trước bên của lưỡi, không cho phép bệnh nhân thụt lưỡi vào.
  • Yêu cầu bệnh nhân xác định vị bằng cách chỉ vào bảng chữ có các vị: mặn, ngọt, đắng, và chua.
  • Phân tích
  • So sánh hai bên bệnh nhân với sang thương dây VII ngoại biên một bên ở đoạn từ nhân đến tai giữa sẽ có giảm hoặc mất vị giác ở 2/3 trước lưỡi cùng bên tổn thương.
  • Một số người bình thường cũng có thể gặp khó khăn trong việc xác định trên lưỡi.

Dây thần kinh VIII (Thính giác/ Tiền đình)

  • Thính giác
  • Mục đích
  • Để phát hiện các khiếm khuyết trong việc nghe
  • Xác định sang thương liên quan đến tai giữa (điếc dẫn truyền)
  • Sang thương liên quan đến dây thần kinh thính giác hoặc ốc tai (điếc thần kinh)
  • Khám thính lực bằng tay (cọ ngón tay)
  • Đứng trước bệnh nhân, đưa hai tay người khám gần hai tai bệnh nhân.
  • Hướng dẫn bệnh nhân: "nhắm mắt lại và nói cho tôi biết bạn nghe thấy cái gì đó và nghe bên tai nào".
  • Cọ 2 ngón tay người khám vào nhau, đầu tiên cọ nhẹ, sau đó tăng lực dần cho đến khi bệnh nhân nghe được tiếng động do người khám tại ra. Làm từng bên một.
  • Ghi kết quả: "Nghe (bình thường/ giảm nhẹ/ giảm đáng kể/ không nghe) bên tai (phải/ trái) khi cọ ngón tay.
  • Khám khi có giảm thính lực một bên
  • Weber test
  • Dùng âm thoa tần số 512Hz hoặc cao hơn đang rung đặt vào giữa trán.
  • Hỏi bệnh xem âm thanh đều hai bên hoặc có bên nào hơn (nếu có).
  • Bệnh nhân điếc dẫn truyền sẽ nghe âm thanh lệch sang bên bệnh, ngược lại điếc thần kinh sẽ nghe lệch sang bên lành.

  • Rinne test
  • Dùng âm thoa tần số 512Hz hoặc cao hơn đang rung đặt vào mỏm chũm.
  • Khi bệnh nhân không nghe âm thanh nữa thì đưa ra trước tai cùng bên của bệnh nhân.
  • Bình thường dẫn truyền khí tốt hơn dẫn truyền xương.
  • Trong điếc thần kinh, thính lực giảm nhưng Rinner bình thường (dẫn truyền khí dài hơn dẫn truyền xương).
  • Điếc dẫn truyền (bệnh tai giữa) thì tỉ lệ này đảo ngược, dẫn truyền khí ngắn hơn dẫn truyền xương.

  • Kích thích đồng thời hai bên
  • Yêu cầu bệnh nhân nhắm mắt lại
  • Tạo ra âm thanh bằng cách cọ hai ngón tay để kiểm tra từng tai, và chắc chắn bệnh nhân có thể nghe được khi kích thích từng tai.
  • Sau đó cọ tay đồng thời ở hai bên, bệnh nhân chỉ có thể nghe được ở một bên (sự triệt tiêu thính giác).
  • Chức năng tiền đình
  • Mục đích
  • Chức năng tiền đình được đánh giá thông qua quan sát cử động mắt và dáng bộ.
  • Các test khác để kiểm tra chức năng tiền đình có thể được thực hiện ở các bệnh nhân than chóng mặt xoay tròn hoặc mất thăng bằng, hoặc ở các bệnh nhân hôn mê trong đó kích thích tiền đình được dùng để tạo ra cử động mắt nhằm kiểm tra chức năng thân não.
  • Quan sát
  • Rung giật nhãn cầu (Nystagmus)
  • Dáng bộ không ổn định
  • Romberg test

Dây IX (Thiệt hầu), X (Lang thang)

  • Mục đích
  • Đánh giá vận động vòm họng (dây X) và phản xạ nôn (dây IX và X).
  • Khám
  • Quan sát vận động vòm họng. Nhìn vòm họng (chiếu đèn) và yêu cầu bệnh nhân nói "A..A..A.."
  • Phân tích
  • Quan sát thấy vòm họng 2 bên nâng đều nhau.
  • Khi yếu 1 bên, vòm họng bên đó sẽ nâng yếu hơn bên kia, lưỡi gà sẽ bị kéo hướng về phía bên mạnh.

  • Phản xạ nôn (Gap reflex): Chạm vào thành sau họng từng bên một cách nhẹ nhàng và quan sát phản xạ nâng vòm họng hai bên.
  • Phân tích
  • Cả 2 bên vòm họng đều nâng lên khi kích thích từng bên một (trực tiếp và đồng cảm).
  • Với sang thương hướng tâm (dây IX) khi kích thích bên tổn thương sẽ không có đáp ứng 2 bên hoặc đáp ứng kém so với kích thích bên kia.
  • Với tổn thương ly tâm (dây X), vòm họng sẽ nâng không cân xứng.

Dây XI (Thần kinh phụ)

  • Mục đích
  • Dây XI xuất phát từ thân tế bào ở tuỷ cổ cao, không từ thân não.
  • Sự co của cơ ức đòn chũm một bên sẽ làm cho đầu xoay sang bên đối diện, nhưng nó cũng hỗ trợ cho sự nghiêng đầu về cùng bên đó.
  • Chi phối thần kinh trên nhân giúp thuận lợi cho các vận động đối bên kích thích bán cầu đại não một bên sẽ làm xoay đầu sang bên đối diện (thông qua hoạt hoá cơ ức đòn chũm cùng bên kích thích)
  • Khám
  • Cơ ức đòn chũm
  • Giữ lòng bàn tay người khám tỳ vào xương gò má bệnh nhân, và yêu cầu họ xoay đầu về hướng chống lại tay người khám. Quan sát và sờ vào cơ ức đòn chũm đang co bên đối diện. Lặp lại với bên kia và so sánh hai bên.
  • Kiểm tra sức gập cổ bằng cách yêu cầu bệnh nhân gập cổ chống lại lực người khám (lòng bàn tay người khám đặt trên trán bệnh nhân)
  • Phân tích
  • Cơ ức đòn chũm không phải là cơ duy nhất tham gia xoay đầu.
  • Bệnh nhân có thể xoay đầu dù cơ ức đòn chũm rất yếu, do dó quan sát và sờ cơ khi khám là điều quan trọng.
  • Cơ ức đòn chũm cũng là cơ chính tham gia gập cổ.
  • Cơ thang
  • Yêu cầu bệnh nhân nâng vai lên, chống lại lực người khám, và sờ cơ thang.
  • Ngoài ra, có thể yêu cầu bệnh nhân đứng quay lưng lại, dang hai tay ra và nâng hai tay lên. Bệnh nhân liệt cơ thang không thể dang hai tay hơn 80o.
  • Phân tích
  • Yếu cơ thang riêng biệt cho thấy tổn thương dây XI ở đoạn xa sau khi phân nhánh vào cơ ức đòn chũm.
  • Nguyên nhân gần như luôn là chấn thương (thường nhất là do phẫu thuật) dây thần kinh ở tam giác cổ sau.

Dây XII (Hạ thiệt)

  • Mục đích
  • Đánh giá sự kiểm soát hoạt động lưỡi trên nhân và tại nhân hay dây thần kinh.
  • Khám
  • Vận động lưỡi: Yêu cầu bệnh nhân lè lưỡi ra.

  • Phân tích
  • Tìm xem có teo, rung giật thớ cơ lưỡi, và lệch lưỡi không, lưỡi lệch sang cơ yếu.
  • Nhân dây XII được hoạt hoá hai bên (đường vỏ hành), nhưng thường không cân xứng.
  • Các sang thương trên nhân có thể gây lệch lưỡi nhẹ, nhưng thường hồi phục sau vài ngày hoặc vài tuần.
  • Lời nói
  • Sang thương dây, nhân hoặc bó vỏ hành trên nhân đều có thể gây rối loạn phát âm.

HỎI ĐÁP

VIDEO

                                
                            

Thống Kê Truy Cập